12-09-2026
Lamrim 2025
Download MP3

TUẦN 57 - NGÀY 12/09/2026

CHỦ ĐỀ: BẢY ĐIỂM LUYỆN TÂM

(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)

Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp, bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề (3 lần). Với động cơ bắt đầu đúng đắn nghĩ đến lợi lạc cho chúng sinh các cõi và kết thúc hồi hướng thì việc học pháp mới trọn vẹn, thành tựu viên mãn.

Chúng ta tụng kệ phát tâm bồ đề:

“Với công đức tích góp do thực hành bố thí, trì giới, nghe pháp, v.v…

Nguyện thành Phật để lợi lạc tất cả chúng sinh”

Đây là nhân phát khởi tâm bồ đề.

Chúng ta cần thực hành pháp, thực hành thiền quán tâm từ, tâm bi, v.v... Khi nỗ lực suy nghĩ chính ta phải phát nguyện đạt Phật quả thì lúc này chỉ mới giải quyết được xa lìa những vấn đề khổ đau của bản thân, phát tâm bồ đề tạm thời. “Nguyện thành Phật để lợi lạc tất cả chúng sinh” là mong muốn giúp tất cả chúng sinh giải thoát. Đây chính là phát khởi tâm bồ đề chân thật.

Người thực hành luyện tâm phạm vi lớn mong muốn thoát khổ và được giải thoát, nhưng mong muốn đó không chỉ cho bản thân mình mà vì thấy tất cả mọi người xung quanh cũng đau khổ giống mình nên mong muốn đạt Phật quả nhằm giúp tất cả chúng sinh đều thoát khổ và đạt giải thoát.

Thực hành tâm bồ đề có lợi lạc rất lớn, giúp tích lũy nhiều thiện hạnh, thanh tịnh nghiệp chướng. Ngoài việc cầu nguyện, ta cần phải rèn luyện tâm thì tâm bồ đề mới phát triển, tăng trưởng tự nhiên.

Có 2 phương pháp để sinh khởi tâm bồ đề: Bảy lớp nhân quả và luyện tâm bằng cách đổi địa vị mình với người (hoán đổi ngã tha).

Khi nói đến phương pháp luyện tâm tinh túy, có những tác phẩm thực hành đại thừa rèn luyện tâm như Tám Thi Kệ Luyện Tâm, Bảy Điểm Luyện Tâm, Bánh Xe Vũ Khí Luyện Tâm. Một trong những đệ tử lỗi lạc của Tổ Atisha là Dromtoenpa đã nhận giáo huấn từ Ngài, sau đó pháp luyện tâm được truyền xuống cho Ngài Potawa, rồi truyền sang Langri Tangpa và Geshe Sharawa. Ngài Geshe Sharawa truyền cho đệ tử là Geshe Chaekawa. Đến Ngài Chaekawa đã tổng hợp và biên soạn lại các giáo huấn truyền miệng của Tổ Atisha để viết lên các điểm chính yếu trong luyện tâm.

Phương pháp hoán đổi ngã tha dựa trên văn bản có tên Bảy Điểm Luyện Tâm gồm 7 điểm chính yếu trong luyện tâm.

1. Pháp hành sơ khởi

Người thực hành phạm vi nhỏ:

- Nghĩ về thân người khó được.

- Nghĩ về chết và vô thường.

- Nghĩ về nghiệp và nhân quả.

Người thực hành phạm vi trung bình:

- Nghĩ về những nhược điểm của luân hồi.

2. Pháp hành chính yếu: Luyện tâm bồ đề

Người thực hành luyện tâm phạm vi lớn.

3. Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

4. Một pháp thực hành suốt đời

Chủ yếu về phương pháp thực hành luyện tâm như thế nào? Và 5 lực gồm năng lực hạt giống trắng, năng lực của tập quán, năng lực quyết định, năng lực của sự từ bỏ, năng lực của cầu nguyện.

5. Chuẩn mực tâm đã luyện

Hoàn thiện thực hành tâm đã luyện thế nào? Tại sao thực hành luyện tâm? Tại sao việc luyện tâm đã diễn ra kết quả?

6. Lời nguyện luyện tâm

Phương pháp rèn luyện giữ giới.

7. Lời khuyên luyện tâm

Ngài Geshe Chaekawa biên soạn thành văn không nhiều nhưng lời giảng dạy phân tích thực hành rèn luyện tâm lại vô cùng thâm sâu.

Điểm thứ 2: PHÁP HÀNH CHÍNH YẾU: LUYỆN TÂM BỒ ĐỀ

Tinh túy ý nghĩa của luyện tâm bồ đề chính là thiền quán trí tuệ tánh không. Sau này, ta sẽ được học trong Lamrim ở chương thiền định ba la mật nói về cách thành tựu thiền tịnh chỉ và trí tuệ ba la mật nói về cách đào luyện thắng quán.

Luyện tâm bồ đề ở phạm vi lớn có 2 loại tâm bồ đề: tâm bồ đề thắng nghĩa và tâm bồ đề tương đối.

Tâm bồ đề thắng nghĩa là tâm hiểu biết về tánh không. Ví dụ, tất cả pháp được tạo bởi tâm vọng tưởng. Bản chất của nó thì không có thành lập tự tánh. Khi phân tích sâu sắc hơn về nhân vô ngã: Làm thế nào để nhập định như không gian và khi tâm không nhập định, làm thế nào để giữ thái độ xem vạn pháp như huyễn.

Nghĩ đến các pháp như giấc mộng

Quán bản chất sáng suốt bất sinh

Pháp đối trị cũng tự giải thoát

Hòa vào bản chất của tàng thức

Thiền quán tánh không như phân tích sự trình hiện ngựa, voi huyễn ảo hay thuật ngữ nhân quả, tục đế. Khi phân tích sự trình hiện hư ảo, con voi, con ngựa chỉ là huyễn ảo, chứ không phải bản tánh chân thật.

Giữa thời, làm chúng sinh huyễn ảo

Khi phân tích sâu sắc cách thiền quán tâm bồ đề theo 2 hướng tánh không và duyên sinh.

Tâm bồ đề tương đối là tâm mong muốn thành Phật để làm lợi lạc cho chúng sinh, chủ yếu áp dụng phương pháp hoán đổi ngã tha.

Vì mong muốn thành Phật để làm lợi lạc cho tất cả chúng sinh nên thực hành thiền quán rằng tất cả mọi chúng sinh hữu tình từng là cha, là mẹ của mình trong những đời quá khứ, nhớ lại sự tử tế của các chúng sinh khi họ là cha, là mẹ của mình, phát tâm mong muốn đền đáp lại sự tử tế của chúng sinh, tâm từ, tâm bi. Đây chính là tâm bồ đề tương đối.

Tiếp đến, luyện tâm bồ đề tương đối chủ yếu theo phương pháp luyện tâm hoán đổi ngã tha bằng cách đổi địa vị mình với người.

Hai pháp CHO - NHẬN, hành xen kẽ

Hành giả bước đầu thực hành luyện tâm về thiền 2 pháp cho - nhận sẽ không tức thời có được đổi địa vị mình với người. Lời văn tuy đơn giản nhưng thực hành rất khó, rất thâm sâu.

“Cho” có ý nghĩa trao tặng niềm vui, an lạc, hạnh phúc của mình đến người khác.

“Nhận” có ý nghĩa đón nhận tất cả đau khổ của người khác vào mình. Đây là giới thiệu về ý nghĩa pháp luyện tâm nhưng pháp này ở trình độ rất thâm sâu, không dễ dàng thực hành.

Ở phương Tây, họ đã áp dụng thực hành hoán đổi ngã tha, nghĩ rằng hít vào những đau khổ của người khác và thở ra trao tặng niềm vui của mình đến người khác.

Hai pháp này, đặt lên hơi thở

Thực hành thiền cho - nhận (1 phút).

Trên thế giới xuất hiện nhiều dịch bệnh, nhiều người gặp nghịch cảnh đau khổ. Ta hãy thả lõng thư giản cơ thể, thở ra trao tặng niềm vui, an lạc, hạnh phúc của mình đến người khác và hít vào đau khổ của người khác vào mình. Hoặc hít vào những đau khổ của mình và nghĩ rằng những khổ đau của mình hòa tan vào không gian rồi tịnh hóa.

Ba nơi, ba độc, ba thiện căn

Nói về tâm bệnh, 3 độc là bám chấp, sân giận, vô minh. 3 nơi nào làm phát sinh ra 3 độc? Đó chính là do chúng ta thường bám chấp vào đối tượng ưa thích, những điều tốt. Ta sân giận với những điều không hợp ý, những điều xấu. Và với những điều bình thường trung lập thì ta lại vô minh. Chính 3 điều này tạm thời khiến tâm ta không hạnh phúc và cuối cùng tích lũy nghiệp xấu, để rồi trổ quả đau khổ. Khi mong muốn tất cả chúng sinh không còn tham, sân, si thì sẽ phát sinh 3 thiện căn.

Ta sẽ dễ dàng thực hành cầu nguyện cho cha mẹ, gia đình hạnh phúc và không còn đau khổ, nhưng lại không mong muốn điều tốt đến với người dưng và khó chịu với kẻ thù. Khi ta dần dần rèn luyện thực hành hoán đổi ngã tha sẽ giúp ta chuyển đổi cách suy nghĩ không còn phân biệt giữa người thân, người dưng và kẻ thù, mong muốn tất cả như nhau đều có hạnh phúc và không còn đau khổ.

Tất cả việc, luyện qua lời nói

Chúng ta không thể lập tức loại bỏ tham, sân, si, nghiệp hữu lậu. Tuy thực hành pháp không dễ dàng nhưng ta có thể bắt đầu tự nhắc nhở rằng “Tôi sẽ không sân giận với các chúng sinh và sẽ làm lợi lạc cho các chúng sinh, nói lời nhẹ nhàng, từ ái với chúng sinh”. Chúng ta bắt đầu rèn luyện qua lời nói, học thuộc ghi nhớ tâm từ vô lượng “Nguyện tất cả chúng sinh an vui và được nhân an vui”. Ví dụ, nếu ta hay có thói quen nói lời thô bạo thì tâm trở nên xấu xa. Nếu ta có thói quen nói lời nhẹ nhàng, ái ngữ thì trở thành người chân thật.

Trình tự tu, bắt đầu từ mình

Ta thấy lời văn “Hai pháp CHO - NHẬN”, nhưng lúc thực hành thì bước đầu là pháp “NHẬN” và tiếp đến mới là pháp “CHO”.

Thực hành pháp CHO - NHẬN chính là áp dụng thiền hơi thở cho - nhận. Cụ thể, khi hít vào, ta quán tưởng tâm bi, nghĩ rằng tất cả đau khổ của người khác sẽ theo hơi thở đi vào và mình gánh hết tất cả mọi đau khổ của người khác. Sau đó, khi thở ra, ta quán tưởng tâm từ, nghĩ rằng tất cả mọi an vui của mình sẽ theo hơi thở đi ra ngoài và thấm hết vào tất cả chúng sinh. Chúng sinh sẽ có được hạnh phúc của mình và mình sẽ gánh mọi đau khổ của chúng sinh. Đây là pháp thiền hơi thở ở trình độ cao cấp.

Trước tiên, ta phải tích lũy kinh nghiệm. Đầu tiên, ta nhận ra lỗi lầm của mình. Khi ta nổi giận, ganh tỵ thì phải biết tìm cách đối trị. Ta cần thực hành giảm thiểu những phiền não của bản thân.

Điểm thứ 3: CHUYỂN NGHỊCH CẢNH THÀNH ĐƯỜNG GIÁC NGỘ

Điều quan trọng của rèn luyện tâm là lúc vui, buồn, nghịch cảnh ập đến, ta nên áp dụng phương pháp luyện tâm bồ đề. Khi ta có niềm vui, hạnh phúc thì dễ dàng thực hành. Nếu gặp nghịch cảnh, chướng ngại, đau khổ thì cố gắng nhắc nhở nhớ đến thực hành rèn luyện tâm bồ đề. Điều đó sẽ giúp tịnh hóa chướng ngại, vượt qua giai đoạn khó khăn, có thể chuyển hóa nghịch cảnh thành thuận duyên.

Thỉnh thoảng, ta thường gặp những điều không mong muốn xảy đến trong cuộc sống. Tuy nhiên, thực hành chuyển hóa tâm sẽ giúp chuyển hóa nghịch cảnh thành thuận duyên, thành đường tu giác ngộ.

Khi thế giới tràn đầy tội lỗi,

Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

Khi nghịch cảnh, khó khăn, bất như ý xảy đến, hãy nghĩ rằng ta có thể chuyển hóa nghịch cảnh thành thuận duyên, thành đường tu giác ngộ. Cõi thế gian này ở đây là xã hội, quốc gia, hàng xóm, v.v…, không chỉ riêng ta mà những chúng sanh khác cũng đầy khổ đau, nghịch cảnh. Đây là bản tánh tự nhiên của cõi luân hồi. Cho nên, bất cứ lúc nào gặp khó khăn, hãy nghĩ rằng ta phải đương đầu với nó, nhận lấy khó khăn đó thay cho chúng sinh và nguyện chúng sinh cũng xa lìa những đau khổ, chướng ngại như thế. Hãy nghĩ rằng những ác nghiệp kiếp trước đã chín muồi, rằng có thể ta đã tạo nhiều ác nghiệp kiếp trước khiến trong tương lai ta phải tái sinh vào các cõi ác; thật may mắn những ác nghiệp kiếp trước đã chín muồi ngay lúc này được tịnh hóa.

Lấy ví dụ về Đức Dalai Lama. Khi đến Ấn Độ, Đức Dalai Lama đã đối mặt vô số khó khăn, xử lý vô số công việc và Ngài vẫn giảng dạy giáo pháp đến mọi người. Nhờ vậy, chư Tăng Ni có cơ hội học và giảng dạy giáo pháp, cư sĩ được nghe pháp. Cho nên, nhân xấu nghịch cảnh xảy đến tạo nên kết quả tốt. Cách nghĩ như vậy sẽ giúp cho tâm chúng ta có nhiều động lực mạnh mẽ vượt qua khó khăn, thử thách. Đó chính là chuyển nghịch cảnh thành đường tu giác ngộ.

Có 2 cách để thực hành việc chuyển hóa là chuyển hóa qua hành động và chuyển hóa qua ý nghĩ.

Chuyển hóa qua ý nghĩ có 2 phần nhỏ là chuyển hóa tương đối (chuyển hóa nhờ phân tích) và chuyển hóa tuyệt đối (chuyển hóa bằng tri kiến).

Chuyển hóa tương đối (chuyển hóa nhờ phân tích)

Hãy trách cứ một điều duy nhất

Khi gặp chướng ngại, khó khăn, ta thường hay đổ lỗi cho người khác. Đây là lối suy nghĩ không đúng. Nếu ta thực hành rèn luyện chuyển hóa tâm, hãy chỉ đổ lỗi cho một điều duy nhất là lỗi lầm của tâm ái ngã.

Thiền quán tri ân đến tất cả

Nghĩa là giữ tâm tử tế và biết ơn đến tất cả mọi chúng sinh. Vì tất cả chúng sinh hữu tình từng là cha, là mẹ của mình trong những đời quá khứ nên ta nhớ lại sự tử tế và đền đáp họ. Khi bị chúng sinh khác hãm hại, hãy nghĩ rằng tri ân kẻ thù đã giúp mình có cơ hội thực hành hạnh nhẫn nhục. Nếu không có chúng sinh thì không có cơ hội phát triển tâm từ bi. Nhờ có chúng sinh mà ta có cơ hội tích lũy phước thiện.

Đại hành giả luyện tâm Langri Tangpa nói rằng: “Tất cả mọi lỗi lầm đến từ tâm ái ngã. Tất cả phẩm hạnh phát sinh đều nhờ vào chúng sinh”. Khi kẻ thù hại mình, ta nên tri ân họ vì họ giúp mình thực hành hạnh nhẫn nhục.

Chuyển hóa tuyệt đối (chuyển hóa bằng tri kiến)

Mọi ảo hiện quán thành bốn thân

Giữ vững tánh không, không gì hơn

Hãy nghĩ rằng mọi nghịch cảnh, chướng ngại dù tốt hay xấu đều là hư ảo. Khi nghịch cảnh xảy đến hay ai khác hãm hại, nói nặng lời với mình thì hãy nghĩ rằng tất cả đều là tánh không, bản chất vô ngã không tồn tại, vô thường luôn thay đổi liên tục, tất cả thay đổi biến mất như huyễn ảo. Nghĩ như vậy sẽ giúp tâm mình được chữa lành, không thất vọng, không buồn phiền.

Chuyển hóa qua hành động

Cách tốt nhất với bốn pháp hành

Gặp việc thế nào cũng thiền quán

Mỗi khi cảm thấy khó khăn, thân bị bệnh và tâm không hạnh phúc, hãy ngay lập tức áp dụng 4 pháp hành vào bất cứ hoàn cảnh gặp phải.

Bốn pháp hành là:

Hành vi thứ nhất: Tích lũy công đức và trí tuệ

Nếu nghịch cảnh, đau bệnh không xảy đến thì ta sẽ không nhớ đến thực hành pháp. Do đó, khi gặp nghịch cảnh, hãy nghĩ tri ân đến Tam Bảo đã gia trì cho ta khi gặp khó khăn, giúp ta nhớ thực hành pháp, giúp ta có cơ hội tích lũy công đức và trí tuệ, có động lực thực hành pháp lễ lạy, trì chú tụng kinh, cúng dường, quy y…

Hành vi thứ 2: Thanh lọc chướng ngại

Khi nghịch cảnh xảy đến, hãy nghĩ đó chính là nhân của ác nghiệp đã chín muồi. Ta cần áp dụng 4 pháp đối trị là từ bỏ, áp dụng mọi thuốc chữa, chừa bỏ tà hạnh, năng lực căn bản để thanh tịnh hóa nghiệp bất thiện.

Hành vi thứ 3: Cúng bánh lễ torma lên chư thiên, phi nhân

Khi cúng bánh lễ torma lên chư thiên, phi nhân, hãy nghĩ rằng mọi ác nghiệp, oan trái đều được tịnh hóa, không còn sân giận và phát sinh tâm bi với tất cả chúng sinh.

Hành vi thứ 4: Cầu nguyện Ruộng Phước, chư thiên, hộ pháp

Cầu nguyện gia trì cho ta thành tựu thực hành pháp, tâm bồ đề, công việc, tiêu trừ chướng ngại, đạt được mọi điều thuận duyên như ý, chuyển hóa nghịch cảnh thành đường tu giác ngộ.

Gặp việc thế nào cũng thiền quán

Khi gặp hoàn cảnh khiến tâm tán loạn, hãy thiền quán vận dụng phương pháp luyện tâm chuyển hóa nghịch cảnh thành đường tu giác ngộ. Hãy thực hành pháp CHO - NHẬN. Ví dụ, nếu ta thực hành tốt chuyển hóa tâm thì tâm trí lúc nào cũng cảm thấy dễ chịu, thoải mái, hạnh phúc. Nếu gặp nghịch cảnh ập đến, hãy nghĩ rằng ác nghiệp kiếp trước đã chín muồi nay được tịnh hóa. Khi ta có niềm an vui, hãy nhớ đến tri ân đạo sư, Tam Bảo và cầu nguyện cho tất cả chúng sinh cũng có được an lạc như mình. Khi thực hành tốt chuyển hóa tâm, ta sẽ hiểu áp dụng thực hành pháp và tâm bồ đề. Khi tâm nghi không còn, ta sẽ biết cách thực hành pháp đúng, từ đó mang đến an lạc cho thân - tâm.