11-07-2026
Lamrim 2025
Download MP3

TUẦN 49 – NGÀY 11/07/2026

CHỦ ĐỀ: 12 CHI PHẦN NHÂN DUYÊN (tiếp theo)

(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)

Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp. Bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề (3 lần). Chúng ta đang thực hành pháp Đại thừa, không những nghĩ đến lợi lạc cho bản thân mà còn phải nghĩ đến lợi lạc cho tất cả mọi chúng sanh. Với động cơ đúng đắn và kết thúc hồi hướng thì việc học pháp mới trọn vẹn và thành tựu viên mãn.

Thầy giới thiệu tóm lược nội dung 4 học phần của sách Giải Thoát Trong Lòng Tay (xem mục lục quyển 1, trang 699 đến trang 702 và quyển 2, trang 426 đến trang 427).

Đức Phật đã giảng dạy nhiều pháp môn. Trong đó, Ngài đã thuyết giảng giai đoạn đạo lộ Đại thừa. Tiếp nối dòng truyền thừa có Đức Bồ Tát Văn Thù, đại sư Long Thọ theo hệ phái trí tuệ tri kiến thâm sâu và Đức Bồ Tát Di Lặc, đại sư Vô Trước theo hệ phái phương tiện hành vi quảng đại.

Ngài Nhiên Đăng Cát Tường Trí Atisha là đại học giả vĩ đại Ấn Độ đã được thỉnh mời sang Tây Tạng giảng dạy giáo pháp. Ngài đã đóng góp rất nhiều công trình nghiên cứu hệ thống giảng giải các bộ kinh, luận đơn giản, dễ hiểu, chỉ dẫn thực hành trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Tổ Atisha đã viết tác phẩm Đèn Soi Nẻo Giác. Tiếp nối dòng truyền thừa có Tổ Je Tsongkhapa, là tác giả hệ thống chi tiết đại luận Lamrim Giai Đoạn Đạo Lộ Bồ Đề.

Phạm vi lớn nói về cách thực hành Mật thừa, nhưng trước khi thực hành Mật thừa, ta cần phải hiểu rõ bồ đề tâm và tánh không. Phạm vi trung bình nói về những nỗi khổ trong luân hồi và tâm mong cầu thoát khỏi khổ đau trong 6 cõi luân hồi. Để hiểu rõ cách thực hành phạm vi trung bình, ta cần phải thực hành phạm vi nhỏ, hiểu về quy y Tam Bảo và tịnh hóa ác nghiệp.

Phạm vi trung bình nói về những nỗi khổ trong 6 cõi và tâm mong cầu thoát khổ đau trong 6 cõi luân hồi. Do đó, phạm vi trung bình đề cập chủ yếu đến tâm mong muốn thoát khổ trong cõi luân hồi nên thực hành Tứ Thánh Đế và 12 chi phần nhân duyên để loại trừ hết tất cả gốc rễ nghiệp, các nguyên nhân dẫn đến khổ đau trong luân hồi. Đối với phạm vi trung bình, mong muốn thoát khổ và được giải thoát chỉ là mong muốn cho bản thân mà thôi.

12 CHI PHẦN NHÂN DUYÊN (trang 89, quyển 2, sách Giải Thoát Trong Lòng Tay)

Chúng ta hãy xem lại bài giảng tóm tắt Bánh Xe Luân Hồi. Sự chết đi và tái sinh ở cõi luân hồi như thế nào được diễn tả qua vành ngoài có 12 ô nhỏ tượng trưng cho 12 chi phần nhân duyên là Vô minh - Hành - Thức - Danh Sắc - Lục nhập - Xúc - Thọ - Ái - Thủ - Hữu - Sinh - Lão tử.

Thầy sẽ giảng tóm lược 3 nội dung liên quan đến 12 chi phần nhân duyên.

Nội dung thứ nhất: Giới thiệu về 12 chi phần nhân duyên theo bộ luận Lamrim thuộc phạm vi trung bình.

Nội dung thứ hai: phân tích sâu hơn 12 chi phần nhân duyên liên quan đến tánh không thuộc phạm vi lớn phân tích nhân vô ngã, pháp vô ngã. Chúng ta sẽ học nội dung này sau.

Nội dung thứ ba: Mối liên hệ giữa khoa học, môi trường xã hội và 12 chi phần nhân duyên.

Đức Phật thuyết kinh về cây lúa (Đạo Cán Kinh) ở thành Vương Xá, núi Kỳ-xà-quật. Lúc ấy, có sự hiện diện của Bồ Tát Di Lặc và Ngài Xá Lợi Phất tranh biện về thuyết “Duyên sinh”.

“Duyên sinh” có thể hiểu đơn giản như sau: Khi hạt giống được gieo ở mảnh ruộng, được tưới nước, có đầy đủ các yếu tố nhân duyên hội tụ, được chăm sóc hằng ngày thì dần dần hạt giống sẽ phát triển.

Trích kinh về cây lúa (Đạo Cán Kinh): “Hôm nay Đức Thế Tôn xem thấy cây lúa bảo các thầy Tỳ kheo như vầy: “Chư Tỳ kheo! Nếu thấy nhân duyên kia liền thấy pháp; nếu thấy được pháp, liền hay thấy Phật”.

Tương tự, những hạt giống sinh trưởng ở mảnh ruộng nhờ vào nhiều yếu tố nhân duyên nương tựa lẫn nhau. Bởi vì nhiều nhân duyên kết hợp, ta có những cảm nhận hạnh phúc, khổ đau ở thân và tâm. Không có đấng sáng tạo thế gian nào ban phát cho ai có được hạnh phúc, khổ đau và Tam Bảo cũng không thể tạo cho ai có được hạnh phúc, khổ đau, chỉ có tích lũy nghiệp mới tạo ra kết quả chín muồi hạnh phúc hay khổ đau. Quan điểm của Phật giáo phủ nhận đấng sáng tạo thế gian, tin vào nghiệp nhân quả và công nhận nhân duyên, điều kiện hình thành từ tứ đại (đất, nước, gió, lửa). Khoa học chứng minh vũ trụ bắt đầu từ vụ nổ lớn gọi là Big Bang, thuyết tiến hóa Darwin chỉ dùng lý luận dẫn chứng và không có tích lũy được thiện lành. Cho nên, muốn hết khổ đau, ta cần phải hiểu về nhân khổ đau, đó chính là vô minh.

12 mắc xích duyên sinh gồm có 6 nhân và 6 quả:

6 nhân gồm Vô minh, Hành, Thức, Ái, Thủ, Hữu. Như kiếp này ta có được thân người mới là nhờ vào 6 nhân đã tác động vận hành xong ở kiếp trước cõi thân trung ấm.

3 nhân thúc đẩy: Vô minh, Hành, Thức.

3 nhân thành tựu: Ái, Thủ, Hữu.

6 quả gồm Danh sắc, Lục nhập (6 căn), Xúc, Thọ, Sanh, Lão tử.

Phía trên đỉnh bánh xe, cạnh răng nanh con quỷ có hình ảnh ông cụ mặc áo đỏ chống gậy, ông lão đó bị mù tượng trưng cho Vô minh. Đi theo chiều kim đồng hồ, hình thứ hai có người mặc áo đỏ đang nặn bình đất tượng trưng cho Hành (nghiệp). Do vô minh chấp ngã, ta tạo ra nghiệp thiện hay bất thiện. Ta cần nhắc nhở tích lũy thiện lành, giữ giới thì mới có được tái sinh cõi lành ở kiếp sau. Vô minh là mắc xích thứ nhất sinh ra mắc xích thứ hai là Hành (nghiệp). Bởi vì vô minh chấp ngã phát sinh phiền não khiến ta tức giận sát sinh, hãm hại người khác, tạo nên ác nghiệp chín muồi, dẫn ta tái sinh vào cõi ác.

Mắc xích thứ ba được minh họa hình con khỉ, tượng trưng cho Thức. Do vô minh chấp ngã, phiền não (tham, sân, si) tạo ra nghiệp, nghiệp đó có thể là nghiệp thiện hay bất thiện. Khi nghiệp được tích lũy, tập khí hình thành và có sẵn trong tâm thức không dễ dàng biến mất, nó tiếp tục đi theo đến kiếp sau.

Hiện tại, mỗi hành động, lời nói, suy nghĩ của chúng ta mỗi ngày đều tạo ra nghiệp thiện hay bất thiện. Từ đó, sinh ra mắt xích thứ 8 là Ái (tham luyến) và khi bám chấp của tâm thức vào đối tượng ngày càng tăng mạnh theo cảm giác yêu thích thì sẽ sinh tâm bám chấp, nếu có cảm giác ghét thì sinh tâm sân giận. Từ đó, sinh ra mắt xích thứ 9 là “Thủ” và tiếp tục bám chấp phiền não thúc đẩy tạo ra nghiệp và chịu sự chi phối của nghiệp, khiến ta phải sinh ra trên đời và vòng xoáy luân hồi lại tiếp tục vận hành.

Mắc xích thứ 10 là Hữu. Bởi vì vô minh, chúng ta đã tạo ra nghiệp thiện hoặc bất thiện (Hành) ở kiếp trước nên từ nghiệp sinh khởi ra tâm thức chứa nghiệp (Thức) và tiến trình tương duyên hỗ trợ khởi động của Ái và Thủ tạo nên nghiệp, kích hoạt vận hành mạnh mẽ hình thành nên Hữu. Tương tự, hạt giống gieo trồng ở mảnh ruộng nhờ vào chăm sóc tưới nước, phân bón và các yếu tố hỗ trợ lẫn nhau nên mới dần dần phát triển. Người Tây Tạng thường cầu nguyện, thực hành pháp chuyển di tâm thức (Phowa) trước lúc chết. Nếu ta không huân tập thói quen suy nghĩ và thực hành tích lũy thiện lành ngay lúc này thì rất khó có thể làm được lúc sắp chết. Cho nên, ta cần chuẩn bị ngay kiếp sống này, luôn luôn suy nghĩ và thực hành tích lũy thiện lành để có được tái sanh vào cõi lành ở kiếp sau.

Khi đối diện với bệnh tật, tuổi già, cái chết, người thân qua đời, ta thường phát sinh sợ hãi và khóc lóc. Lúc ấy, ta hãy nhắc nhở hãy giữ điềm tĩnh và nhớ đến pháp thì sẽ có rất nhiều lợi lạc.

Quan điểm đạo Phật có 4 loại Hữu đã được nói đến ở phần “Cách thành tựu thân trung ấm” là Chết - Vào cõi thân trung ấm - Tái sinh nhập thai - Cận kề với cái chết.

6 quả gồm Danh sắc, Lục nhập (6 căn), Xúc, Thọ, Sanh, Lão tử

4 quả thúc đẩy: Danh sắc, Lục nhập, Xúc, Thọ

2 quả thành tựu: Sinh, Lão tử

Mắc xích thứ 4 là Danh sắc. Khi 6 nhân hoạt động xong thì đã chấm dứt ở kiếp trước, nghĩa là đã chấm dứt ở cõi thân trung ấm. Như vậy, Danh sắc, Lục nhập, Xúc có từ đâu? Là từ tâm thức nhập vào khi tinh cha huyết mẹ tiếp xúc với nhau. Lúc này có được tái sinh sự sống mới ở kiếp người chính là Danh sắc (ngũ uẩn) và được hình thành trong tử cung của người mẹ, từ hợp tử, phôi thai (lúc này chưa hình thành mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) và thai nhi phát triển dần dần hoàn thiện đến tháng thứ 9.

Mắc xích thứ 5 là Lục nhập. Khi Danh sắc được hình thành trong tử cung của người mẹ và dần dần phát triển hình thành nên 6 căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) nhưng lúc này 6 căn vẫn chưa hoạt động vì chưa có tiếp xúc với đối tượng bên ngoài nên chưa có sự hình thành 6 trần, 6 thức. Khi người mẹ sinh thai nhi ra ngoài thì lúc này mới có sự tiếp xúc giữa con người và thế giới bên ngoài (sắc, âm thanh, mùi hương, mùi vị, chạm xúc, pháp).

Mắc xích thứ 6 là Xúc. Sự gặp gỡ tiếp xúc với đối tượng bên ngoài, nghĩa là 6 căn bắt đầu tiếp xúc với thế giới bên ngoài (6 trần), đó chính là Xúc. Khi đã có xúc phát sinh ra cảm giác nóng, lạnh, vui, buồn, tức là cảm thọ. Đó chính là mắc xích thứ 7 là Thọ.

Mắt xích thứ 11 là Sinh. Khi nghiệp kích hoạt mạnh mẽ (Hữu) khiến ta đi tái sinh bắt đầu một kiếp sống mới, hình thành đầy đủ 5 uẩn và các cơ quan chức năng.

Mắt xích thứ 12 là Lão tử. Chúng ta thường nghĩ rằng những đứa trẻ mới sanh ra đến độ tuổi 20 thì mới cho là bắt đầu lão hóa, nhưng không phải như vậy. Khi vừa được sinh ra sau giây thứ nhất thì chính giây thứ hai đã bắt đầu được xem là già và sự tiếp nối của già là quá trình chết.

Trích dẫn đoạn kệ trong Kinh Tinh Túy Duyên Khởi. Ngài Mã Thắng truyền lại cho đại luận sư tôn giả Xá Lợi Phất.

“Các pháp do nhân - duyên sanh

Cũng do nhân - duyên mà diệt,

Đức Phật, Thầy của chúng tôi

Ngài thường giảng nói như thế”.

Đức Phật nói rằng:

“Chư Phật không rảy nước phép để rửa tội,

Không lấy tay xoa đầu cho ta hết khổ đau,

Không ban cho ta quả giác ngộ như cho quà,

Mà cứu ta bằng cách khai thị chân lý”.

Đức Phật giảng dạy rằng nếu ta mong muốn thoát khỏi trôi lăn trong cõi luân hồi thì phải cắt đứt gốc rễ nguyên nhân của khổ.

Nội dung thứ 3: Mối liên hệ giữa khoa học, môi trường xã hội và 12 chi phần nhân duyên.

Chúng ta cùng sinh sống chung trong môi trường xã hội, ví dụ như sinh hoạt cùng tổ chức, công ty, cùng tham gia học pháp có thầy - trò, từng bộ phận mắt, bộ não…, các cơ quan phối hợp với nhau tạo nên cơ thể. Mọi thứ đều có nhân duyên, điều kiện nương tựa hợp thành và không thể nào có một bộ phận tách biệt hoạt động riêng lẻ được.

Cuộc sống là sự hiện diện của các mối liên hệ tương quan đa phương giữa mỗi con người với nhau, với môi trường xã hội, cộng đồng và môi trường tự nhiên. Tuy nhiên, ta thường ích kỷ chỉ mong muốn lợi ích riêng cho bản thân nên gặp những vấn đề về thực phẩm, nguồn nước.

Ngài Mahatma Gandhi nói về tầm quan trọng của thực phẩm: Mỗi người nên biết điều chỉnh tiêu thụ lượng thức ăn, nước uống vừa đủ và xem khẩu phần ăn uống vừa đủ của các loài động vật. Tuy nhiên, một số người chỉ biết thỏa mãn mong muốn lợi ích riêng tư của mình mà không nghĩ đến người khác nên thường xảy ra tâm đố kị với nhau, quốc gia vì muốn lợi ích riêng nên gây chiến tranh với quốc gia khác khiến cuộc sống bất an.

Thầy giới thiệu nhà khoa học nổi tiếng Tiến sĩ Frans de Waal người Hà Lan - Mỹ, từng là giáo sư Trường Đại học Emory. Ông là nhà linh trưởng học nổi tiếng nghiên cứu về loài linh trưởng. Ông phân tích quan sát thấy con khỉ chỉ sẵn sàng chia sẻ thức ăn với con khỉ khác nếu cảm thấy thỏa mãn thân thuộc với chúng, xuất hiện trong tầm nhìn của chúng và nhận được khẩu phần bằng nhau. Cho nên, hành vi chia sẻ thức ăn của con khỉ cũng là bản chất vốn tồn tại lòng cảm thông ở con người, ta không nên ích kỷ dành lấy tất cả cho lợi ích riêng của bản thân. Ông không phải là Phật tử, nghiên cứu về hành vi xã hội, khi bạn cho tôi món ăn thì tôi sẽ tri ân bạn qua suy nghĩ hay nói lời cảm ơn, thái độ biểu hiện cảm ơn, điều kiện thuận lợi là sự nương tựa hỗ trợ lẫn nhau cùng sinh sống trong xã hội.

Thầy trích dẫn Bảy Điểm Luyện Tâm thuộc bài học phạm vi lớn trong Lamrim, Ngài Geshe Chekawa biên soạn thành văn. “Thiền quán tri ân đến tất cả” nghĩa là chuyển hóa những cảm xúc sân giận, hãm hại chúng sinh khác bằng cách tỏ lòng tri ân đến tất cả. Do họ xuất hiện, cha mẹ, anh em, họ hàng, bạn bè có mặt nên ta có mặt. Mảnh ruộng xuất hiện nên mình có thực phẩm. Khi ta mua bánh mì vào buổi sáng, hãy tri ân từng giai đoạn công nhân làm bánh, trồng trọt, làm bột cực nhọc tạo nên thành phẩm bánh mì. Cho nên, rèn luyện thực hành thiền quán tri ân đến tất cả thì chúng ta sẽ phát triển bản tánh hòa thuận tương trợ lẫn nhau, cảm thấy thoải mái hạnh phúc trong xã hội.

Chúng ta hiểu về nguyên lý duyên sinh “Do cái này có mặt, cái kia có mặt; do cái này không có mặt, cái kia không có mặt; do cái này sinh, cái kia sinh; do cái này diệt, cái kia diệt”. Ngài Martin Luther King, nhà hoạt động nhân quyền vĩ đại của nước Mỹ, nói rằng: “Trước khi bạn kết thúc bữa sáng, bạn đã phụ thuộc vào hơn một nửa thế giới”. Mọi khía cạnh trong cuộc sống của chúng ta đều gắn kết phụ thuộc lẫn nhau. Ta cần tư duy phân tích hiểu rõ thuyết duyên sinh, thì sẽ không còn hãm hại lẫn nhau, nuôi dưỡng phát triển tâm từ bi, sống hòa thuận bình an trên thế giới.

Triết học đã phân tích thuyết duyên sinh có mối liên hệ thâm sâu trong thực hành pháp, môi trường xã hội và khoa học. Sau này, Rinpoche sẽ hướng dẫn đạo tràng chi tiết bài học phạm vi lớn. Chúng ta cùng tụng kệ hồi hướng công đức học pháp hôm nay đến tất cả chúng sinh có được thân tâm an lạc, hạnh phúc.