Lamrim 2025
TUẦN 38 – NGÀY 11/04/2026
CHỦ ĐỀ: PHÁT TRIỂN LÒNG TIN VÀO LUẬT NHÂN QUẢ (tiếp theo)
(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)
Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp. Chúng ta là Phật tử đang thực hành pháp Đại thừa, không những nghĩ đến lợi ích của bản thân mà còn nghĩ đến lợi lạc của tất cả chúng sanh. Vì thế, chúng ta bắt đầu buổi học bằng việc tụng kệ quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề. Với động cơ đúng đắn, việc học pháp mới trọn vẹn và tích lũy được nhiều thiện lành.
Trước tiên, chúng ta ngồi theo tư thế thoải mái và hít vào thở ra 3 lần từ 1 đến 2 phút. Trong phút đầu tiên, hãy suy nghĩ về kệ quy y và tiếp theo nghĩ đến phát tâm bồ đề. Trong suốt thời gian một tiếng học pháp, hãy nguyện khởi tâm từ bi làm lợi lạc đến tất cả chúng sinh.
Con xin quy y Phật, Pháp, Tăng
Cho đến khi đạt được bồ đề
Với công đức tích góp do thực hành bố thí, v.v…
Nguyện thành Phật để lợi lạc tất cả chúng sinh (3 lần).
Thầy giới thiệu tóm lược 4 học phần của sách Giải Thoát Trong Lòng Tay: Nền tảng, thực hành sơ khởi, Phạm vi nhỏ, Phạm vi trung bình, Phạm vi lớn (xem mục lục quyển 1, trang 699-702 và quyển 2, trang 426-427).
Hiện tại, chúng ta đang học Phạm vi nhỏ. Hai phương pháp thực hành chính yếu của Phạm vi nhỏ để có được hanh phúc ở đời này và các đời sau là nương tựa quy y Tam Bảo và thực hành về nghiệp quả. Tất cả các phương pháp thực hành chính yếu này đều xuất phát từ nền tảng là cần phải nhìn thấy rõ tầm quan trọng của thân người quý báu. Thân người quý báu chính là nền tảng và công cụ cho tất cả mọi pháp hành.
Trong Phạm vi nhỏ, phần đầu tiên là hiểu rõ về Tam Bảo và nương tựa vào Tam Bảo. Kế đến là hiểu biết về nghiệp quả và thực hành về nghiệp quả. Thực hành pháp cho dù là cơ bản hay thâm sâu cỡ nào mà không biết thực hành nghiệp quả thì xem như không biết thực hành pháp. Tất cả mọi pháp hành đều nương tựa vào nghiệp quả thì mới phát triển được các kỹ năng thực hành pháp.
Để có được niềm tin vào nghiệp quả, ta cần phải tìm hiểu rõ nội dung về nghiệp quả thì mới biết thực hành pháp như thế nào là đúng đắn.
Ngày thứ 13: Phát triển lòng tin vào luật nhân quả - gốc rễ của sức khỏe và hạnh phúc.
Nghĩ về nhân quả nói chung: Khi ta gieo nhân thiện lành sẽ có được kết quả tốt đẹp và an lạc. Nếu gieo nhân ác, ta sẽ nhận quả khổ đau.
1) Nghĩ về nhân quả tổng quát có 4 phần
· Nghiệp cố định
· Nghiệp có sức tăng trưởng lớn
· Bất cứ gì ta gặp đều do ta đã tạo nghiệp tương ứng
· Nghiệp đã tạo thì sẽ không tự nhiên mà biến mất
2) Nghĩ về một vài điểm đặc biệt của nhân quả có 3 phần
· Nghĩ về khía cạnh đen của nhân quả
· Nghĩ về khía cạnh trắng của nhân quả
· Dạy về những cửa ngõ vô tình đưa đến nghiệp cường liệt
Nghĩ về khía cạnh đen của nhân quả (Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 1, trang 652).
1. Tiến trình nghiệp đen thực thụ: chủ yếu nói về 10 điều bất thiện. Khi biết đâu là thiện hạnh, đâu là ác hạnh, từ đó tránh xa ác hạnh và nỗ lực làm thiện.
10 điều bất thiện gồm có:
3 điều bất thiện trên thân: giết; lấy của không cho; tà hạnh về dâm dục.
4 điều bất thiện trên khẩu: nói dối; nói lời ly gián; nói lời nhục mạ; nói lời phù phiếm.
1) Nói dối: được hình thành khi có người nào đó đã bị lừa bởi hành động hoặc lời nói đó (không có nói dối trong suy nghĩ). Ví dụ, ta không thấy mà nói là thấy, không nghe mà nói là có nghe, nói dối để lừa đảo người khác…
2) Nói lời ly gián (nói lời gây chia rẽ): khi nói những lời khiến người khác chia rẽ, gây bất hòa trong lời nói qua lại với hàng xóm, đồng nghiệp, đạo tràng thì ta đã tạo ra ác nghiệp.
3) Nói lời nhục mạ (nói lời ác ý): nói xấu về những khuyết điểm về mắt, tai, thân thể của người khác hay nói những lời nhục mạ hạ thấp làm người khác bị tổn thương. Trong Nhập Bồ Tát Hạnh có ghi rằng “Tránh nói lời vô nghĩa không lợi lạc cho tâm trí. Khi giao tiếp với nhau cần nói lời nhẹ nhàng”.
Nếu ta nói chuyện với tâm tốt thì người khác sẽ cảm thấy vui vẻ và chính ta cũng cảm thấy hạnh phúc. Nếu ta nói những lời chê bai về khuyết điểm, hạ nhục đối phương thì sẽ phá vỡ những phẩm chất thiện lành, gây ra bất hòa trên thế giới. Đây chính là ác nghiệp.
4) Nói lời phù phiếm là nói lời tán gẫu, nói lời vô nghĩa. Ví dụ như việc hai người tụ lại buôn chuyện của người khác hay nói những khuyết điểm của người khác sau lưng họ mà không có liên quan đến mình.
Trong số 4 điều bất thiện trên khẩu, nói lời phù phiếm là nghiệp nhẹ nhất. Tuy nhiên, đa số học viên, nhân viên hễ có thời gian rỗi hay tụ lại buôn chuyện thị phi của người khác nên dễ mắc những lỗi lầm nghiêm trọng.
Ví dụ, trước đây, chúng ta nói lời vô nghĩa như về chiến tranh. Ngày nay, xã hội phát triển nhiều kênh truyền thông như Facebook, Youtube, Instagram, thỉnh thoảng có tạo một số loạt thông tin có nghĩa, nhưng chiếm đa số thông tin vô nghĩa. Tuy nhiều thông tin vô nghĩa nhưng ta lại phí thời gian bị nó lôi cuốn vào những thông tin vô bổ. Những thông tin xung đột hay thông tin vô nghĩa mà ta lại sinh bám chấp và nổi sân vào nó, từ đó tích lũy ác nghiệp, hay gây ra những căn bệnh tâm lý. Cho nên, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo học sinh nên giảm bớt sử dụng mạng truyền thông xã hội.
Ba điều bất thiện trên ý: tham; ác ý; tà kiến.
1) Tham: khao khát có được những tài sản mới của người khác. Ví dụ, khi thấy người khác mua xe hơi đời mới, hiện đại, ta liền sinh tâm bám chấp, thích món tài sản đó thuộc về mình.
2) Ác ý: trong tâm sinh khởi suy nghĩ muốn hãm hại người khác, hãm hại cho công việc của người khác từ thành công trở thành thất bại hay nảy sinh hãm hại bất kể qua thân, khẩu, ý của người khác, có động cơ muốn làm tổn thương người khác thì đã phạm vào nghiệp ác ý.
3) Tà kiến (những suy nghĩ sai lầm): không tin rằng việc gây tạo nhân sẽ nhận quả tương ứng, không tin có Tam bảo sẽ đem đến lợi lạc v.v... Nếu có những suy nghĩ đó là phạm vào ác nghiệp. Đây là ác nghiệp rất nguy hiểm, nặng nhất trong 3 điều bất thiện trên ý.
Ví dụ thứ nhất, thời xa xưa ở Tây Tạng, người dân nơi đây cho rằng nghi lễ giết động vật lấy máu và thịt để hiến tế lên thần linh là tốt. Tương tự ở Nepal cũng có lễ hội tế thần đẫm máu, hàng ngàn con vật bị giết hại. Nhiều người dân Nepal cho rằng họ không có việc làm, nghèo khổ nên cúng tế con vật là điều thiêng liêng quý giá để vị thần ban phước cho họ. Đây là suy nghĩ lệch lạc, sai lầm.
Ví dụ thứ 2, có một số tôn giáo khác cho rằng thực hành từ bi bằng cách hiến tế thịt cá và thịt ếch lên thần linh nên họ đã giết rất nhiều cá, ếch để lấy thịt tế lên vị thần. Đây là suy nghĩ lệch lạc, sai lầm. Tà kiến sẽ tích lũy nhiều ác nghiệp và rất nguy hiểm.
2. Sự khác nhau làm nên nghiệp nặng hay nhẹ (Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 1, trang 667).
Những việc làm như thế nào gọi là nghiệp nặng, như thế nào gọi là nghiệp nhẹ? Dựa trên 6 yếu tố xác định nghiệp nặng hay nhẹ.
1) Nặng do bản chất
Nói chung, trong 10 bất thiện nghiệp, ác nghiệp trên thân là nghiệp nặng, tiếp đến ác nghiệp trên khẩu nhẹ hơn xíu, cuối cùng ác nghiệp trên ý thì nhẹ hơn. Tuy nhiên, trong 3 điều bất thiện trên thân và 4 điều bất thiện trên khẩu thì nghiệp được xếp đầu tiên là “giết” sẽ nặng nhất, hơn cả những nghiệp được liệt kê phía sau nó. “Nói lời phù phiếm” là nghiệp nhẹ nhất. Riêng về ác nghiệp trên ý thì tà kiến là ác nghiệp nặng nhất.
2) Nặng do ý định: cùng một nghiệp mà có động cơ cố ý tạo nghiệp sẽ nặng hơn so với vô tình tạo nghiệp. Ví dụ, cùng một nghiệp trộm cắp hay giết hại chúng sanh thì sẽ xem xét mức độ động cơ tạo nghiệp thế nào. Việc cố tình giết con vật với tâm sân giận cực độ sẽ có nghiệp nặng hơn so với các nghiệp có ý định nhẹ hơn như việc giết con vật với tâm thái không có nổi sân. Ý định là một thành phần rất lớn quyết định nghiệp nặng hay nhẹ.
3) Nặng do hành vi (cách thực hiện của nghiệp): đối với nghiệp sát sanh, hành động sát sinh nào khiến cho chúng sinh bị giết cảm thấy đau khổ hơn, khiến con vật đau đớn không chết liền, cứ từ từ hành hạ cho đến chết và cách thực hiện sát sanh tàn ác hơn thì nghiệp sẽ nặng hơn. Hoặc khi nói lời nhục mạ kết hợp với thể hiện thái độ mắng nhiếc người khác, ta sẽ xem xét cách thực hiện hành vi nào tàn ác hơn thì nghiệp sẽ nặng hơn. Cho nên dựa vào cách hành động thực hiện sẽ xem xét nghiệp nặng nhẹ khác nhau thế nào.
4) Nặng do căn bản (đối tượng của hành động): Ví dụ như khi ta nổi cơn sân nói lời nhục mạ hay nói xấu với người bạn ngang hàng với mình thì nghiệp sẽ nhẹ hơn so với việc nói xấu cha mẹ hay nói xấu vị thầy có công ơn giảng dạy cho mình.
5) Nặng vì tính cách thường xuyên: Một thói quen xấu được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ cho ra một kết quả được cộng dồn của một nghiệp được tiến hành thường xuyên trong một thời gian dài. Kết quả phát sinh do một nghiệp được cộng dồn trong suốt một thời gian dài sẽ nặng hơn so với một nghiệp chỉ tạo ra vài lúc, không thường xuyên liên tục. Ví dụ, việc lướt xem Facebook nhiều lần trong suốt thời gian dài sẽ phát sinh hậu quả nghiệp nặng tăng trưởng hơn so với lướt xem tạm vài lúc.
6) Nặng vì không có cách cứu chữa: Lấy ví dụ, ta làm một việc ác hãm hại người khác và cảm thấy thỏa mãn vui thích vì đã hoàn thành ý muốn hãm hại người đó thì ác nghiệp sẽ rất lớn. Nếu ta nổi cơn sân nói những lời mắng nhiếc người khác, nhưng sau đó, ta suy nghĩ lại cảm thấy hối hận về hành vi sai trái đó, biết hối cải để sữa chữa lỗi lầm thì nghiệp sẽ nhẹ hơn. Dù có người khác nói đó là việc sai trái, ta vẫn tự đắc cho là đúng. Với tâm thỏa mãn tự đắc lớn như thế cho rằng việc ác đã làm không có gì sai trái thì không có cách nào cứu chữa.
Nếu ta kết hợp tất cả 10 ác nghiệp trên thân, khẩu, ý vào một hành động có khởi tâm cố ý muốn vừa giết hại và kết hợp mắng nhiếc con vật đó thì ta sẽ phạm nghiệp “giết” trên thân và “nói lời nhục mạ” trên khẩu và nghiệp “ác ý” trên ý. Tất cả cộng dồn lại tạo ra năng lực ác nghiệp cực đại. Tuy chúng ta đều không muốn khổ đau nhưng không hiểu rõ nguyên nhân nào gây ra đau khổ thì chính ta sẽ tạo ra lỗi lầm rất lớn. Cho nên hiểu rõ về ác nghiệp rất quan trọng.
3. Dạy về quả báo của những nghiệp này (Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 1, trang 669).
Mỗi điều bất thiện trong 10 điều bất thiện sẽ cho ra 3 quả báo như sau.
1) Quả báo đã thuần thục (quả báo đã chín muồi)
Ta đã từng tích lũy ác nghiệp ở kiếp trước thì kiếp này sẽ có quả chín muồi như bệnh tật, khổ đau, v.v… Ví dụ, nếu đã phạm nhiều ác nghiệp giết, cắt đứt sự sống của chúng sanh khác ở kiếp trước thì hệ quả của ác nghiệp đó là kiếp này thọ mạng cũng bị giảm theo.
2) Quả báo tương ứng với nhân: nghĩa là có kết quả tương ứng với việc ta đã làm.
Lấy ví dụ, ta đã từng giết hại nhiều chúng sinh ở kiếp trước hay thích thú với hành động giết hại chúng sinh thì tương ứng kiếp này có quả báo đoản mạng lúc tuổi trẻ, giảm tuổi thọ. Khi ta giết chúng sinh thì sẽ tạo thói quen giết. Hành động giết chúng sinh do ta đã từng quen với việc giết ở đời trước, nên quả báo tương ứng với nhân của những nghiệp xấu đó là khiến cho thói quen làm các việc xấu của mình ngày càng tăng.
3) Quả báo thuộc về hoàn cảnh
Nếu bây giờ ta quen hãm hại người khác thì ở những đời sau, ta sẽ sinh ra ở những nơi có chiến tranh, mùa màng thất thu, động đất, bệnh dịch, v.v… Quả báo thuộc về hoàn cảnh là ta sẽ sống ở những nơi mà ta phải chịu kết quả giống với những hành động từng gây ra cho người khác trước đây.
Cần phân biệt giữa các loại quả báo. Chẳng hạn, quả báo đã thuần thục chủ yếu nói về đời sau. Bây giờ ta làm hành động đó, khi nghiệp chín ra kết quả thì đời sau ta sẽ chịu ảnh hưởng. Quả báo tương ứng với nhân chủ yếu nói về kết quả của đời này. Nếu làm ác thì ta sẽ ngày càng quen với việc làm ác và sẽ chịu hậu quả từ việc làm ác đó.
Ác nghiệp nào trong 10 bất thiện nghiệp cũng cho 3 loại quả báo này. Các thiện nghiệp cũng có 3 loại quả báo tương tự.
Phát tâm nương tựa quy y Phật Bảo: phải có được niềm tin rất lớn vào Đức Phật.
Phát tâm nương tựa quy y vào Pháp Bảo: khởi tâm từ nay ta sẽ thực hành theo đúng những lời Phật dạy.
Phát tâm nương tựa quy y vào Tăng Bảo: có niềm tin và nương tựa vào những người thực hành đúng đắn theo lời Phật dạy.
Trong quy y Tam Bảo, quan trọng nhất là phát tâm nương tựa quy y Pháp bảo. Cốt lõi tinh túy của việc thực hành pháp chân thật là không hãm hại chúng sinh, hiểu rõ nghiệp quả giúp ta tránh hành vi tạo ác nghiệp và tích lũy phát triển nhiều thiện lành.
Lời dạy của Đức Phật:
“Ác hạnh thế nào cũng không làm
Thiện hạnh tròn đầy hành viên mãn
Hoàn toàn điều phục tâm chính mình
Đây là giáo pháp của Phật Đà”
Việc tích lũy thiện nghiệp qua lễ lạy, cúng dường thì tốt, nhưng quan trọng là ta cần phải hiểu rõ về nghiệp quả, nhờ đó sẽ nhắc nhở ta trước khi thực hiện hành động. Khi nhận diện hành động đúng sai thì việc thực hành pháp sẽ tiến bộ hơn. Chúng ta nên tránh nói dối, nói lời nhục mạ, chia rẽ, không khởi tâm ác ý lừa gạt bạn thân, hàng xóm thì dần dần tự nhiên trong mỗi chúng ta sẽ tốt hơn và việc thực hành pháp có kết quả tốt.
Kết thúc buổi học với việc hồi hướng công đức “Nguyện cho bồ đề tâm tối thượng” đến tất cả những nơi có chiến tranh, dịch bệnh đều chấm dứt.