Lamrim 2024
TUẦN 78 – NGÀY 24/05/2026
CHỦ ĐỀ: NGÀY THỨ 20 – SÁU BA LA MẬT
(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)
Hôm nay Thầy tiếp tục hướng dẫn phần còn lại của Bảy Điểm Luyện Tâm. Thầy sẽ giải thích đơn giản chứ không đi sâu quá chi tiết vào từng phần.
BẢY ĐIỂM LUYỆN TÂM
1/ Pháp hành sơ khởi: đầu tiên thực hành các pháp sơ khởi
2/ Pháp hành chính yếu: luyện tâm bồ đề
3/ Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ
4/ Một pháp thực hành suốt đời
5/ Chuẩn mục tâm đã luyện (tâm thuần)
6/ Lời nguyện luyện tâm
7/ Lời khuyên luyện tâm
7.18 Giải thoát bằng nhận thức, suy xét
Đối với bất cứ việc nào hay pháp hành nào, đầu tiên ta phải hiểu, phán đoán, phân tích suy xét cho tận tường rồi mới tiến hành làm việc đó hay thực hành pháp hành đó.
7.19 Đừng chăm chú vào việc phóng chiếu
Câu này có nghĩa là đừng nghĩ đến những vọng tưởng không thực tế.
7.20 Đừng tự chuốc bực tức vào mình
7.21 Đừng tu theo những cơn chốc lát
7.22 Đừng mong chờ để được cảm ơn
Những câu kệ còn lại trong điểm thứ 7 “Lời khuyên luyện tâm” khá đơn giản, chúng ta có thể tự đọc hiểu. Như vậy, chúng ta đã hoàn tất văn bản Bảy Điểm Luyện Tâm.
NGÀY THỨ 20 – SÁU BA LA MẬT
Sau khi học xong Bảy Điểm Luyện Tâm, chúng ta sẽ bước sang ngày thứ 20 trong sách Giải Thoát Trong Lòng tay. Phần này hướng dẫn rằng sau khi phát tâm bồ đề, chúng ta cần phải thực hành 6 ba la mật.
Cách luyện 6 ba la mật sau khi phát tâm bồ đề (xem trang 236, quyển 2, sách Giải Thoát Trong Lòng Tay). Sáu ba la mật gồm bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.
1/ BỐ THÍ
Bố thí có nghĩa là cho đi. Có 3 loại bố thí:
- Loại bố thí thứ nhất là tài thí, có nghĩa là bố thí tài vật, của cải. Ta cho người khác thức ăn, nước uống hay bất cứ thứ gì thuộc về vật chất thì đó là tài thí.
- Loại bố thí thứ hai là vô úy thí (trang 239). Vô úy là không sợ hãi. Cho người khác sự che chở, bảo bọc gọi là vô úy thí, tức bố thí sự không sợ hãi. Ví dụ, ta phóng sinh, cứu mạng một chúng sinh khác là vô úy thí.
- Loại thứ ba là pháp thí. Ví dụ, có người ăn xin đến xin mình món gì đó, dù không có gì để cho nhưng ta có thể chia sẻ lời hay ý đẹp, chia sẻ Phật pháp với người đó. Đây là pháp thí. Hay khi ta chia sẻ những hiểu biết về Phật pháp với người thân trong gia đình cũng được xem là pháp thí.
Pháp thí có nghĩa là chia sẻ hiểu biết về lời dạy của Đức Phật để người khác cũng có hiểu biết giống như mình. Còn vô úy thí là cứu mạng chúng sinh khác, giúp cuộc sống của họ được an lành, không bị hãm hại nữa. Ngay cả khi có một con muỗi đến đốt mình, nhưng mình không có ý định đập chết con muỗi, đó cũng là thực hành vô úy thí, cứu mạng chúng sinh khác.
Thậm chí, khi ăn uống, ta nghĩ rằng thức ăn vào trong cơ thể sẽ giúp các con vi khuẩn trong cơ thể cũng có được thức ăn, duy trì được cuộc sống của chúng. Với động cơ như vậy, việc mình ăn thức ăn cũng được xem là bố thí. Đó là những ví dụ về thực hành bố thí.
Thầy đặt ra một tình huống: Nếu có người ăn xin đến xin 10 USD, dù mình có 10 USD nhưng mình không cho thì việc này có vi phạm giới luật hay không? Hiện tại, ở mức độ thực hành của lớp mình, chúng ta không có vi phạm bất kỳ giới nguyện nào cả. Đức Phật có giảng dạy về bố thí ba la mật, nhưng Ngài không nói rằng không thực hành bố thí là bị phạm giới. Cho nên, quay trở lại câu chuyện ở trên, nếu người ta xin tiền, chúng ta cho hay không cho là lựa chọn của mình.
Thầy đặt một câu hỏi khác: Có một con chó đang rất đói. Nếu ta có con cá hoặc miếng thịt và đem cho con chó ăn thì hành động này được xem là thiện nghiệp hay ác nghiệp? Thầy nói rằng hành động này không có gì sai trái cả.
Tương tự, một người đang rất đói, ta bố thí cho người đó một phần ăn, trong đó có thịt, cá… thì hành động này được xem là bố thí. Cũng trong trường hợp đó, ta lại tự tay giết con cá để cho người đó ăn thì lúc này ta tạo ra hai nghiệp: một nghiệp ác (hành động giết cá) và một nghiệp xấu (hành động bố thí cho người kia).
2/ TRÌ GIỚI BA LA MẬT
Trì giới là thực hành các nguyên tắc, kỷ luật. Đối với 2 ba la mật đầu tiên, trì giới sẽ quan trọng hơn bố thí. Theo thứ tự 6 ba la mật thì ba la mật sau sẽ quan trọng hơn ba la mật trước. Ví dụ, ba la mật thứ 3 sẽ quan trọng hơn ba la mật thứ 2, ba la mật thứ 5 sẽ quan trọng hơn ba la mật thứ 4. Trí tuệ ba la mật ở vị trí cuối cùng nên trí tuệ ba la mật là phần thực hành quan trọng nhất trong các ba la mật.
Thầy nói rằng, chúng ta cần phải thực hành bố thí ba la mật nhưng không bắt buộc lúc nào cũng thực hành bố thí. Ví dụ, con muỗi bay tới hút máu mình, không có nghĩa lúc đó ta bắt buộc phải đưa tay ra cho muỗi đốt để bố thí thức ăn cho nó. Cho máu là một pháp thực hành tốt nhưng không bắt buộc thực hành.
Đức Phật dạy rất rõ ràng rằng thực hành bất kỳ điều gì cũng cần phải kết hợp với trí tuệ. Vì thế, trí tuệ được xếp ở ba la mật cuối cùng, cho thấy thực hành trí tuệ là thực hành quan trọng nhất trong các ba la mật. Dù là thực hành bố thí ba la mật hay trì giới ba la mật… đều phải kết hợp với trí tuệ. Ngay cả trong Lamrim, ta thấy phần cuối cùng của Lamrim là học về trí tuệ. Ta cần hiểu rằng thực hành trí tuệ là thực hành quan trọng nhất. Cho nên, sau khi dạy phải phát tâm bồ đề, Phật đã dạy tất cả các pháp thực hành, đến cuối cùng Ngài mới dạy về thực hành trí tuệ.
Chúng ta vẫn thường nghĩ rằng bài pháp quan trọng nhất mà Đức Phật giảng dạy là về thực hành từ bi. Nếu nghĩ như vậy là chưa thấu đáo. Trong các lời dạy của Đức Phật, thực hành trí tuệ mới là thực hành quan trọng nhất. Người ta khổ không phải vì thiếu từ bi mà là do thiếu trí tuệ. Một người có từ bi mà thiếu trí tuệ thì chắc chắn sẽ chịu khổ. Những người thực hành từ bi thâm sâu, nhưng thiếu trí tuệ, đó chỉ là từ bi ngu ngốc, cuối cùng cũng sẽ chịu khổ mà thôi.
Cho nên, dù thực hành bất kỳ pháp nào, kể cả thực hành từ bi, chúng ta cũng phải kết hợp với trí tuệ. Vì thực hành trí tuệ quan trọng nhiều như thế, ta có thể thấy trong suốt cuộc đời giảng dạy kinh điển của Đức Phật, Ngài đã dành hầu hết thời gian giảng dạy cho đệ tử về trí tuệ. Vì Ngài biết rõ rằng trí tuệ là phần thực hành quan trọng nhất. Nhưng sau này người ta nói rằng thực hành từ bi, thực hành tâm bồ đề là thực hành quan trọng nhất. Thực ra không phải như vậy. Thầy không nói rằng từ bi không quan trọng. Từ bi rất quan trọng, nhưng so với trí tuệ, từ bi không quan trọng bằng. Quan trọng nhất vẫn là thực hành trí tuệ. Nếu ta thực hành từ bi mà không có trí tuệ thì sẽ chịu khổ.
Trong kinh sách, Phật dạy rằng phải thực hành bố thí với phương tiện là trí tuệ và thực hành từ bi cũng phải với phương tiện là trí tuệ. Phật dạy rằng thực hành bất cứ điều gì cũng phải kết hợp với trí tuệ. Sau này người ta nói rằng từ bi mới là phần cốt lõi trong đạo Phật, vì từ bi dễ hướng dẫn và giảng dạy hơn. Giảng dạy từ bi rất dễ dàng, một vị thầy cứ ngồi đó giảng về lòng từ bi và rơi nước mắt, người nghe rất dễ dàng cảm nhận tâm từ bi của vị thầy đó. Để người khác trở nên từ bi hơn, chỉ cần mất vài ngày, nhưng để người khác có thể phát triển được trí tuệ, phải mất nhiều năm.
Xuyên suốt Lamrim, pháp thực hành quan trọng nhất là thực hành nương tựa đạo sư, vì nương tựa đạo sư chính là nền tảng của đạo lộ. Tuy nhiên, điểm tinh túy, sâu sắc và cốt lõi nhất chính là trí tuệ, nên trí tuệ là phần cuối cùng chúng ta được học trong Lamrim. Cho nên, theo lộ trình trong Lamrim, nương tựa đạo sư là phần đầu tiên chúng ta tiếp cận, vì nương tựa đạo sư là nền tảng để ta hiểu biết và thực hành các pháp. Trong tất cả các pháp thực hành đó, điểm cốt lõi tinh túy nhất là trí tuệ, nên trí tuệ sẽ được học cuối cùng.
Tiếp theo Thầy sẽ hướng dẫn về thực hành trì giới ba la mật. Hãy nên nhớ rằng khi học về trì giới ba la mật, ta phải thực hành kết hợp với trí tuệ.
Có 3 loại trì giới ba la mật (xem trang 244, quyển 2):
- Loại giới thứ nhất là giới chế ngự những hành vi bất thiện (còn gọi là nhiếp luật nghi giới), nghĩa là những nguyên tắc khiến ta không làm các điều ác.
Chúng ta có giới 10 điều thiện như không sát sanh, không tà dâm, không trộm cắp… Những giới này rơi vào nhiếp luật nghi giới. Thầy lấy ví dụ, sau khi quy y Tam Bảo, ta sẽ nhận giới cư sĩ với 5 giới là không sát sanh, không uống rượu, không tà dâm, không trộm cắp, không nói dối. Trong 5 giới đó, ta có thể chọn 2 hay 3 giới để thực hành. Việc thực hành những giới như thế thuộc về giới chế ngự những hành vi bất thiện.
Chúng ta nên biết rằng khi thực hành trì giới, loại giới đầu tiên là giới chế ngự những hành vi bất thiện, để khống chế không làm các hành vi sai trái nữa. Thầy đặt một tình huống: Chúng ta nhận giới không uống rượu để thực hành. Giả sử ta đang đau bệnh. Khi đi khám bệnh thì bác sĩ nói rằng nếu mình uống một muỗng rượu thì sức khỏe sẽ phục hồi trở lại. Lúc đó ta nên làm gì?
Để trả lời câu hỏi này, có rất nhiều cách. Ta không cần uống một muỗng rượu, có thể uống cả chai cũng được. Sau khi uống hết chai rượu, ta thực hành tịnh hóa ác nghiệp bằng pháp tịnh hóa Kim Cang Tát đỏa. Hoặc ta không uống bất kỳ giọt rượu nào cả và cố gắng tìm một phương pháp chữa bệnh khác mà không phải dùng rượu. Lúc đó, ta sẽ có được sự tự tin rằng mình đang tuân thủ giới luật rất nghiêm ngặt.
Trong tình huống này, có rất nhiều cách giải quyết. Nhưng cách nào là cách đúng đắn nhất? Nếu ta rơi vào tình huống đó, ta cần phải làm gì? Cho dù ở trong tình huống như thế nào, người quyết định phải làm gì cho đúng đắn là bản thân mình. Để có thể đưa ra quyết định đúng đắn, ta phải có trí tuệ. Cho nên, trí tuệ thực sự rất quan trọng. Khi thực hành bất cứ điều gì, ta cũng phải kết hợp với trí tuệ.
Để đưa ra một quyết định đúng đắn là một điều khó. Nhưng để đưa ra một quyết định đúng đắn vào đúng thời điểm lại càng khó hơn nữa. Đó là lý do trong suốt cuộc đời giảng pháp của Đức Phật, Ngài dành phần lớn thời gian hơn 40 năm để giảng về trí tuệ. Những gì Đức Phật giảng về trí tuệ được gom góp trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật. “Bát Nhã” nghĩa là trí tuệ. Ngay cả tên của bản kinh đã được đặt là “Trí tuệ ba la mật” nên thực hành trí tuệ rất quan trọng.
Thầy đặt câu hỏi: Giả sử chúng ta đã nhận đầy đủ 5 giới để thực hành, trong đó có giới không uống rượu. Sau đó ta uống nước trái cây nhưng không biết ly nước trái cây đó có lên men, có cồn trong đó hay không. Khi đó ta phải làm như thế nào? Lúc này ta chỉ cần nghĩ “Sống mạnh mẽ và hạnh phúc” rồi cứ uống thôi (Rinpoche cười).
Tâm trí con người rất dễ hoang mang và bối rối. Đó là do chúng ta không hiểu bản chất thực tại, do vô minh nên chúng ta không biết phải làm gì trong các tình huống. Khi thực hành Phật pháp, chúng ta luôn cảm thấy hoang mang, bối rối. Đó là do thiếu trí tuệ. Chỉ mỗi chuyện đơn giản như uống rượu đã khiến ta bối rối, không biết làm gì cho đúng để giữ vững giới nguyện là không uống rượu. Những hoang mang, bối rối này là do thiếu trí tuệ, do vô minh. Cho nên, trí tuệ rất quan trọng. Trong khi đó, không có gì phải bối rối, hoang mang về tâm từ bi. Ta thấy rằng rất nhiều người có tâm từ bi và thực hành từ bi rất dễ. Nhưng thực hành từ bi không giúp ta thông minh hơn. Chúng ta sẽ càng bối rối, hoang mang nếu không thực hành trí tuệ.
Sư phụ của Thầy có phẩm hạnh nổi trội là cực kỳ sáng suốt và trí tuệ nên Thầy rất kính nể Sư phụ. Thầy nói rằng Sư phụ của Thầy cũng rất từ bi, nhưng giả sử Sư phụ Thầy có lòng từ bi bao la mà thiếu trí tuệ thì lúc đó Thầy có nhận được gì từ Sư phụ? Thầy sẽ chỉ nhận được tình yêu thương, chứ không có gì khác. Nhưng Sư phụ Thầy là người rất thông minh, sáng suốt, lỗi lạc nên Thầy đã nhận rất nhiều kiến thức từ Sư phụ.
Thầy đặt một tình huống: Nếu bạn xin làm giáo viên trong một trường học và nói với ban giám hiệu rằng: “Tôi là người rất từ bi, rất yêu thương, quan tâm học trò?”, bạn có nghĩ rằng ban giám hiệu sẽ nhận mình vào làm công việc giảng dạy hay không? Nếu bạn muốn xin làm giáo viên, ban giám hiệu chắc chắn sẽ xem xét bạn có bằng cấp, có đủ kiến thức để đứng lớp giảng dạy hay không. Đó là điều kiện tiên quyết, chứ người ta không quan trọng lòng từ bi của bạn bao la đến đâu.
Thầy nói nhiều về vai trò của thực hành trí tuệ là bởi vì Đức Phật đã giảng dạy rằng thực hành 6 ba la mật trong bất kỳ tình huống nào cũng đều phải kết hợp với thực hành trí tuệ. Trong suốt buổi học ngày hôm nay, điều quan trọng nhất cần được đọng lại trong tâm chúng ta là khi thực hành bất cứ điều gì cũng phải kết hợp với trí tuệ, dù là thực hành tâm từ bi, hay trì giới… Chỉ một điều chúng ta không cần kết hợp với trí tuệ. Điều đó là gì?
Làm việc gì cũng cần có trí tuệ. Ví dụ, muốn vào lớp Zoom, ta cũng cần dùng trí tuệ để đăng nhập vào lớp học. Chỉ mỗi một pháp thực hành ta không cần kết hợp với trí tuệ, pháp thực hành đó là gì? Khi thực hành trí tuệ, chúng ta không cần kết hợp với trí tuệ để thực hành trí tuệ. Ngoài điều này ra, khi thực hành tất cả các pháp khác, ta đều phải kết hợp với trí tuệ. Chúng ta đang dần đi đến phần cốt lõi, quan trọng nhất của Lamrim, chính là thực hành trí tuệ.
Thầy nhắc lại có ba loại trì giới:
1/ Nhiếp luật nghi giới: giới không làm các điều ác.
2/ Nhiếp thiện pháp giới: giới làm tất cả các điều thiện.
3/ Nhiêu ích hữu tình giới: giới làm những việc lợi lạc cho chúng sinh khác.
Khi thực hành bất kỳ pháp nào, ta đều phải kết hợp với trí tuệ. Để phát triển trí tuệ, ta phải thông qua một giai đoạn gồm 3 bước: phải am hiểu rõ ràng cụ thể, sau đó phân tích, rồi phải áp dụng lặp đi lặp lại để phát sinh được trải nghiệm. Khi đó, trí tuệ mới phát sinh. Quá trình này là Văn - Tư - Tu. Đây là cách chúng ta có thể phát triển trí tuệ.
Nói về thực hành từ bi, ta không cần phân tích nhiều như vậy, mà chỉ cần dùng cảm xúc của mình để cảm nhận tâm từ bi. Từ bây giờ trở về sau, khi đã dần tiếp cận với thực hành trí tuệ, ta hãy áp dụng trí tuệ vào mọi pháp thực hành. Ta hãy thực hành bằng trí tuệ và dừng lại việc thực hành bằng cảm xúc.
Từ trước đến nay, chúng ta thực hành chỉ toàn dùng cảm xúc mà thôi. Chỉ có một điều duy nhất ta cần phải làm với cảm xúc của mình. Đó là gì? Đây là bài tập về nhà của chúng ta. Khi kết hôn, chúng ta cần phải dùng cảm xúc, chứ dùng trí tuệ thì ta sẽ không lập gia đình nữa (Rinpoche cười).
Thực hành kết hợp với trí tuệ là như thế này. Ví dụ, khi cần dấn thân thực hành tâm bồ đề, ta cần đặt câu hỏi cho mình: Vì sao ta phải thực hành tâm bồ đề? Thực hành tâm bồ đề như thế nào? Làm sao để phát triển một cách đúng đắn tâm bồ đề? Như thế nào là thực hành sai? Như thế nào là thực hành đúng?... Ta phải phân tích như vậy. Đó là thực hành tâm bồ đề kết hợp với trí tuệ.
Khi thực hành bất kỳ pháp nào, ta đều phải kết hợp với trí tuệ thì mới thấy được lợi ích của pháp thực hành đó. Ví dụ, khi nhìn thấy rõ ràng lợi ích thực sự của thực hành tâm bồ đề thì lúc đó ta mới dấn thân thực hành tâm bồ đề. Chỉ khi nào thấy được lộ trình rõ ràng và đúng đắn của việc thực hành tâm bồ đề thì ta mới có thể thực hành tốt được tâm bồ đề.
Thầy kể một câu chuyện: Có một vị thầy và một người đệ tử đi qua một chiếc cầu. Người đệ tử nói với vị thầy rằng: “Thầy hãy xem kìa, con cá đang bơi lội dưới sông rất vui vẻ”. Vị sư già mới nói rằng: “Con không phải là cá, sao biết con cá đó vui?”. Lúc này vị sư trẻ đáp lại: “Thầy không phải là con, làm sao biết rằng con không biết?”. Vị sư già lại tiếp tục nói rằng: “Con không phải là thầy, làm sao con biết được rằng thầy biết con không biết”. Vậy cuối cùng là ai đúng, ai sai? (Rinpoche cười).
Để phát triển trí tuệ, ta cần phải nhìn nhận vấn đề, sự việc dưới nhiều góc cạnh. Nếu không có trí tuệ, theo thói quen, ta sẽ nhìn vấn đề một cách phiến diện. Còn nếu phát triển được trí tuệ, ta sẽ học được cách nhìn vấn đề, sự việc dưới nhiều góc cạnh khác nhau. Nếu muốn thấu hiểu được bản chất thực tại của vấn đề, ta phải nhìn nó từ nhiều hướng khác nhau.
Trở lại câu chuyện của 2 thầy trò, ai đúng, ai sai? Xét cho cùng, con cá dưới sông có đang vui hay không? Nếu chúng ta hỏi Thầy “Ai đúng?”, câu trả lời của Thầy rất đơn giản. Thầy trả lời rằng Thầy không quan tâm ai đúng, ai sai, vì lớp học đã hết giờ rồi, Thầy phải ngừng lớp học tại đây.