10-05-2026
Lamrim 2024
Download MP3

TUẦN 76 - NGÀY 10/05/2026

CHỦ ĐỀ: BẢY ĐIỂM LUYỆN TÂM (tiếp theo)

(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)

Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp, bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và Phát tâm bồ đề (3 lần). Chúng ta đang thực hành pháp Đại thừa, không chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân, mà còn nghĩ đến lợi lạc cho tất cả mọi chúng sanh. Với động cơ bắt đầu đúng đắn và kết thúc hồi hướng, việc học pháp mới trọn vẹn, thành tựu viên mãn.

Thầy giới thiệu tóm lược bốn học phần của sách Giải Thoát Trong Lòng Tay: Nền tảng, thực hành sơ khởi, phạm vi nhỏ, phạm vi trung bình, phạm vi lớn (xem mục lục quyển 1, từ trang 699 đến 702 và quyển 2, từ trang 426 đến 427).

Người thực hành phạm vi lớn có mong muốn thoát khổ và giải thoát, nhưng mong muốn đó không chỉ cho bản thân mà cho tất cả chúng sinh. Vì thấy tất cả mọi người xung quanh cũng đau khổ giống mình, nên người thực hành phạm vi lớn mong muốn thực hành tâm từ bi, tâm bồ đề, đạt Phật quả để giúp tất cả chúng sinh đều thoát khổ và giải thoát.

Sáu ba la mật có đề cập đến nội dung tâm bồ đề, làm thế nào để phát tâm bồ đề, những giai đoạn luyện tâm bồ đề theo chỉ giáo bảy lớp nhân quả và luyện tâm bằng cách đổi địa vị mình với người.

Luyện tâm bằng cách đổi địa vị mình với người chủ yếu thực hành bảy điểm luyện tâm. Trước tiên đảnh lễ đạo sư, tâm đại bi và tiếp đến là nội dung chính của chánh văn.

Pháp luyện tâm Đại thừa, luyện tâm theo dòng truyền thừa Kadampa là rất tốt. Có quan điểm cho rằng thực hành pháp luyện tâm rất đơn giản. Quan điểm khác lại cho rằng thực hành pháp luyện tâm vô cùng thâm sâu. Cũng có quan điểm nói rằng thực hành pháp luyện tâm sẽ đem lại lợi lạc thực sự cho tâm thức. Nếu nó đem lại nhiều lợi lạc cho tâm thức, ta hãy nên xem thực hành theo phương pháp luyện tâm là điều rất tốt. Đây chính là thực hành pháp chân thật.

Trong xã hội hiện đại ngày nay, người ta đã thực hiện nhiều nghiên cứu về tâm lý học và những phương pháp trị liệu giúp chữa lành, phục hồi tâm lý. Cho nên, Đức Đạt Lai Lạt Ma thường nhắc nhở nhà tâm lý học Phật giáo nên chăm chỉ thực hành luyện tâm.

Chánh văn Bảy Điểm Luyện Tâm được Ngài Geshe Chekawa biên soạn gồm có bảy điểm:

1/ Pháp hành sơ khởi

- Nghĩ về thân người khó được

- Nghĩ về chết và vô thường

- Nghĩ về những nhược điểm của luân hồi

2/ Pháp hành chính yếu: Luyện tâm bồ đề

3/ Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

4/ Một pháp thực hành suốt đời

Ở đây chủ yếu nói về phương pháp thực hành luyện tâm như thế nào và năm lực gồm: năng lực hạt giống trắng, năng lực của tập quán, năng lực quyết định, năng lực của sự từ bỏ, năng lực của cầu nguyện.

5/ Chuẩn mực tâm đã luyện

- Hoàn thiện thực hành tâm đã luyện thế nào? Tại sao thực hành luyện tâm?

6/ Lời nguyện luyện tâm

7/ Lời khuyên luyện tâm

Lời khuyên luyện tâm gồm 22 lời khuyên:

Lời khuyên thứ nhất: Tất cả pháp hành, làm bằng một

Lời khuyên thứ 2: Dẹp các xấu xa, làm bằng một

Lời khuyên thứ 3: Ở đầu và cuối, làm hai việc

Chúng ta áp dụng thực hành pháp lập tức sẽ có nhiều lợi lạc. Hiện tại, chúng ta có một tiếng đồng hồ học trên lớp nên bắt đầu thời khóa là phát khởi động cơ thanh tịnh đúng đắn và cuối thời khóa là hồi hướng công đức.

Tương tự, chúng ta thức dậy buổi sáng phát khởi động cơ suy nghĩ thiện lành và trước khi đi ngủ vào buổi tối, ta nhớ lại những việc tốt nào đã làm trong ngày và hoan hỷ hồi hướng những thiện lành đó. Làm việc thiện lành sẽ giúp tâm ta thoải mái, vui vẻ, hạnh phúc hơn và khi tâm trở nên thuần thục, quen với việc làm thiện hằng ngày, ta sẽ có được lợi lạc rất lớn.

Lời khuyên thứ 4: Gặp một trong hai, hãy nhẫn nhục

Câu kệ nói rằng khi gặp một trong hai điều này xảy ra, ta hãy thực hành nhẫn nhục. Điều thứ nhất là mỗi khi đau khổ hay khó khăn, thử thách ập đến, tâm ta thường bất an. Ví dụ, khi quá buồn, quá đau khổ, ta hay quyết định thiếu sáng suốt trong công việc và cuộc sống. Hay khi trở nên giàu sang, ta lại đổi tính, tỏ ra xem thường bạn bè thân thiết trước đây. Ta hãy nghĩ rằng những khổ đau có xảy ra đi chăng nữa thì cũng là vô thường, mọi thứ rồi sẽ thay đổi, không có thường hằng. Ta nên thực hành nhẫn nhục với những trở ngại, khổ đau xảy đến.

Bên cạnh đó, khi đạt được thành tựu, may mắn, ta hay trở nên quá phấn khích. Lúc đó, ta phải thực nhẫn nhục với niềm hạnh phúc đó, vì những điều này cũng sẽ thay đổi, không tồn tại mãi mãi. Khi quá vui, ta hay muốn làm cái này, cái kia, rồi đưa ra quyết định vội vàng. Tâm ta có lúc cảm xúc dâng trào nhớ đến tri ân đạo sư, Tam Bảo, người đã từng giúp đỡ mình. Ta nên thực hành nhẫn nhục với những cảm xúc quá vui như vậy, nghĩa là ta phải tìm cách khiến tâm mình điềm tĩnh trở lại.

Lời khuyên thứ 5: Giữ hai điều như giữ sinh mạng

Hai điều này rất quan trọng. Điều thứ nhất là những lời khuyên của pháp tu luyện tâm. Điều thứ hai là những lời nguyện của pháp tu luyện tâm. Những lời khuyên nhân quả, thực hành pháp, thực hành luyện tâm rất quan trọng. Chúng ta không thể thực hành ngay lập tức, nhưng có thể dần dần thực hành mỗi điều trên và giữ gìn như bảo vệ sinh mạng.

Lời khuyên thứ 6: Hãy luyện tâm làm ba điều khó

Điều khó thứ nhất là phải nhận diện được phiền não trong tâm. Chúng ta rất khó phát hiện phiền não, tham chấp, sân giận... phát sinh khi nào trong tâm. Giả sử ta nổi giận thì sau bao lâu mới phát hiện ra mình đang nổi giận?

Điều khó thứ hai là khi đã nhận diện phiền não rồi thì áp dụng pháp đối trị lên phiền não đó. Khi phát hiện tâm đang khởi sân thì mất bao lâu ta mới áp dụng biện pháp đối trị tâm sân đó?

Điều khó thứ ba là duy trì sự liên tục, nghĩa là trong tương lai phiền não đó có nảy sinh trở lại thì ta vẫn liên tục áp dụng pháp đối trị. Chúng ta phải liên tục giữ pháp đối trị, không để pháp đối trị đó biến mất.

Nếu ta áp dụng được phương pháp đối trị sân giận lần thứ nhất thì lần sau tiếp tục sân giận, ta có thể áp dụng phương pháp đối trị loại bỏ cơn sân hay không? Ta có thể duy trì pháp đối trị tâm sân của mình trong thời gian bao lâu?

Chúng ta phải cẩn thận với ba điều khó phía trên. Khi ta thấy người khác được hạnh phúc, mua xe ô tô mới, điện thoại hiện đại thì tâm ganh tỵ lại phát sinh. Ngay lúc tâm đố kỵ sinh khởi, ta phải lập tức phát hiện nó và áp dụng phương pháp đối trị kiểm soát nó như thực hành hoan hỷ với người có được hạnh phúc, có được xe, điện thoại mới hay thiền quán tâm từ bi với họ và không để pháp đối trị đó biến mất sau này. Hãy thường xuyên nỗ lực rèn luyện thực hành luyện tâm với ba điều khó.

Lời nguyện thứ 7: Hãy nên tạo ra ba nhân chính

Để tu tập giáo pháp, cần ba nhân chính. Một là tìm cho mình một vị minh sư, một vị thầy phù hợp. Ngoài việc nương tựa theo đạo sư, cần phải lắng nghe giáo pháp từ vị thầy. Hai là cần một tâm thức có thể thực hành giáo pháp. Ba là cần có những nhu yếu phẩm như quần áo, thực phẩm và nơi trú ẩn.

Lời khuyên thứ 8: Thiền đến ba điều không giảm sút

(Câu kệ này đã được giải thích trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 2, trang 226)

Điều thứ nhất không được làm giảm sút là lòng tôn kính hoan hỷ đối với vị thầy. Điều thứ hai là tâm hoan hỷ trong việc thực hành giáo pháp, không nên tỏ ra muốn rời bỏ học pháp. Điều thứ ba là tinh tấn thực hành các lời khuyên luyện tâm, lời nguyện luyện tâm, giữ gìn tốt và không giảm sút thực hành nhân quả.

Lời khuyên thứ 9: Hãy giữ ba việc không tách rời

Đó là không được để cho thân, khẩu, ý của mình rãnh rỗi mà lúc nào cũng phải làm cho thân, khẩu, ý bận rộn với những thiện hạnh và từ bỏ ác hạnh. Luôn nhắc nhở bản thân từ bỏ ác hạnh qua thân là không sát sanh; từ bỏ ác hạnh qua khẩu là không nói lời thô ác, mắng nhiếc; từ bỏ ác hạnh qua ý là không có tâm suy nghĩ xấu hãm hại người khác, tương tự thực hành từ bỏ 10 điều bất thiện.

Lời khuyên thứ 10: Luyện thanh tịnh, không thiên lệch đối tượng

Chúng ta đôi khi vui vẻ mới thực hành luyện tâm, còn buồn chán thì không thực hành luyện tâm. Chúng ta thích chỗ này mới làm, ghét chỗ kia thì không làm. Nhưng các đối tượng, thời gian, nơi chốn đều bình đẳng như nhau. Khi thực hành pháp, ta không nên có tâm phân biệt đối tượng, thời gian, nơi chốn. Chúng ta hãy nỗ lực lúc nào cũng phát khởi tâm từ bi, tâm bồ đề với những đối tượng trước đây do tâm phân biệt mà chúng ta đã tách họ ra khỏi phạm vi luyện tâm của mình. Bây giờ, chúng ta không nên thiên lệch mà luôn thiền quán pháp luyện tâm đó trên tất cả các đối tượng bình đẳng như nhau.

Lời khuyên thứ 11: Luyện sâu rộng, xem trọng tất cả

Thực hành luyện tâm đối với chúng sinh không chỉ là lời nói suông mà ta cần thực hành từ sâu thẳm trong tâm. Nếu chỉ nói suông mà không có thực hành luyện tâm từ bi là luyện tâm chưa đúng.

Lời khuyên thứ 12: Luôn thiền đến những điều bỏ mặc

“Điều bỏ mặc” nghĩa là những điều khó, nghĩa là ta thường nổi sân, ganh tỵ với người khác. Ngày nay, xã hội có nghiên cứu phương pháp tâm lý học hướng dẫn chữa lành, giảm dần tâm sân giận, đố kỵ, bám chấp vào đối tượng hay suy nghĩ tiêu cực, hiểu sai lầm về người khác, cũng như tư vấn những phương pháp trị liệu trước khi sắp nổi giận, có tâm trạng tiêu cực...

Trong cuộc sống, chúng ta thường phớt lờ hoặc bỏ mặc những đối tượng mình ghét như bạn xấu, hàng xóm xấu và trong tâm thường nảy sinh vọng tưởng có ai đó hãm hại mình. Do đó, chúng ta thường gặp khó khăn trong việc thiền quán luyện tâm nhẫn nhục, phát khởi tâm từ bi đối với đối tượng không ưa thích.

Từ nay, chúng ta hãy kiên trì cố gắng thực hành luyện tâm từ bi, nhẫn nhục. Hãy đưa những điều đó vào thiền quán. Hãy thường nghĩ đến những người mình không ưa thích, những người gặp khó khăn hơn mình.

Lời khuyên thứ 13: Đừng nên lệ thuộc vào hoàn cảnh

Chúng ta hay bị lệ thuộc vào hoàn cảnh bên ngoài, niềm vui, nỗi buồn, thời gian thuận lợi hay không thuận lợi, sức khỏe tốt hay xấu. Khi sức khỏe tốt, tâm trạng vui vẻ, ta mới thực hành pháp. Còn khi sức khỏe không tốt, tâm trạng buồn chán, ta lại không thực hành pháp. Đó là điều không nên. Cho dù hoàn cảnh bên ngoài thuận lợi hay khó khăn, thời gian thuận tiện hay không thuận tiện, chúng ta đừng để hoàn cảnh đó tác động lên tâm mình, hãy luôn kiên trì thực hành luyện tâm.

Lời khuyên thứ 14: Từ nay hãy thực hành pháp chính

Chúng ta rất may mắn có được thân người hiện tại, gặp được giáo pháp thì hãy thực hành pháp, luyện tâm ngay lúc này, không nên trì hoãn đến ngày mai, ngày kia, vì không chắc chắn ở kiếp sau chúng ta sẽ có được thân người quý báu để có thể thực hành giáo pháp. Cho nên, ta nên thực hành pháp ngay hiện tại, trong kiếp này. Đây là điều rất quan trọng.

Lời khuyên thứ 15: Đừng nên hiểu lệch lạc sai lầm

Trong cuộc sống, đôi lúc chúng ta có nhiều hiểu biết lệch lạc.

Có 6 loại hiểu biết lệch lạc:

1) Nhẫn nhục lệch lạc (nhẫn nhục sai)

Chúng ta gặp khó khăn trong việc thực hành giáo pháp nhưng vẫn kiên trì thực hành pháp thì không phải là nhẫn nhục lệch lạc. Còn khi ta nghĩ rằng “mình không có khả năng thiền nhẫn nhục về thực hành pháp, hay ý nghĩa của pháp này khó hiểu quá, mình không thực hành được đâu” thì đó mới là suy nghĩ lệch lạc.

Nhẫn nhục lệch lạc có thể hiểu là cố gắng chịu đựng giải quyết những vấn đề gặp phải khi làm những ác nghiệp như giết hại, lừa gạt, hãm hại người khác, nhưng lại không có khả năng kiên trì đối trị với những khó khăn trong thực hành giáo pháp.

2) Mong cầu lệch lạc (ước nguyện sai lầm)

Mong cầu lệch lạc có thể hiểu là không mong cầu thực hành thành tựu pháp, đạt giải thoát, đạt được quả vị Phật vì lợi lạc cho bản thân và cho người khác mà chỉ mong cầu có được hạnh phúc, sức khỏe, địa vị, tích lũy nhiều tài sản trong cuộc sống, thích làm những việc thế gian.

3) Trải nghiệm lệch lạc (hiểu sai mùi vị)

Trải nghiệm lệch lạc là thích thú trải nghiệm những thú vui thế tục, mà không thích trải nghiệm thực hành pháp nhờ lắng nghe, quán tưởng, thiền định.

4) Đừng từ bi lệch lạc (hiểu sai tâm từ bi)

Ta thường không phát khởi tâm bi đối với những người làm những việc xấu, tham gia tiệc tùng, uống bia, rượu... nhưng lại phát khởi tâm từ bi đối với những hành giả gặp khó khăn trong thực hành pháp. Đây là một dạng phát tâm từ bi lệch lạc. Ví dụ như phát khởi tâm từ bi đối với hành giả có thân thể ốm yếu vì lễ lạy, thiền định. Vị hành giả này mặc cho bản thân đang bệnh tật, ốm yếu nhưng vẫn can đảm, kiên trì cố gắng thực hành pháp với mục đích thanh tịnh ác nghiệp để có kết quả thiện hạnh cho đời sau.

Từ bi lệch lạc là phát khởi tâm từ bi không chính đáng, như không phát khởi tâm từ bi đúng đắn đối với những đối tượng thật sự khó khăn, cần giúp đỡ.

Thầy kể câu chuyện: Ngài Jetsun Milarepa thiền định tại hang động Nha Nam, lúc ấy có nhóm phụ nữ thấy Ngài có thân thể ốm yếu, xanh xao, nghèo khổ, liền phát khởi tâm từ bi đối với Ngài. Đây là phát khởi tâm từ bi lệch lạc. Cũng ngay lúc đó, Ngài Milarepa phát khởi tâm từ bi đối với nhóm phụ nữ này: “Ôi, những con người này đang thật sự không hiểu những đau khổ sinh tử trong luân hồi”. Đây chính là phát khởi tâm từ bi chân thật.

Một ví dụ khác là khi thấy rất nhiều người uống bia rượu, hút thuốc, nằm ngủ ngoài đường, ta khởi tâm từ bi, thấy họ tội nghiệp và bố thí tiền cho họ. Nhưng họ lại dùng số tiền bố thí của mình tiếp tục mua bia rượu, thuốc lá và họ có thể làm hại người khác. Nếu không suy nghĩ đúng đắn thì ta sẽ bố thí lệch lạc.

Phát khởi tâm từ bi chính đáng cần dựa trên một động cơ đúng đắn. Đó là bởi vì ta thương xót cho những người ở trong hoàn cảnh khó khăn, đang phải chịu khổ, từ đó ta phát tâm từ bi đối với họ và mong muốn giúp đỡ họ.

5) Đừng quan tâm lệch lạc (khuyến cáo sai lầm)

Đối với những người cần giúp đỡ thực hành pháp, ta lại không giúp đỡ hướng dẫn họ thực hành pháp, mà lại vui thích hướng dẫn họ đi chơi nơi này, nơi kia. Bản thân mình cũng không thích thực hành pháp mà thích làm những việc bất thiện và hướng dẫn lệch lạc người khác làm điều bất thiện, những việc làm thế tục.

6) Đừng tùy hỷ lệch lạc (hỷ lạc sai lầm)

Khi ta thấy có ai đó làm thiện lành như bố thí, giúp đỡ cộng đồng hay chính ta đã từng làm việc thiện thì nên hoan hỷ những việc làm đó. Việc hoan hỷ này mang lại cho ta nhiều lợi lạc.

Đôi khi, ta xem phim thấy người ta bị giết hay thấy cảnh xô xát, cãi vã với kẻ thù, cảnh chiến tranh và tâm ta lúc đó phát khởi hỷ lạc. Điều này sẽ khiến ta tích lũy nhiều ác nghiệp. Hoặc khi ai đó nói lời mắng nhiếc, hãm hại, suy nghĩ xấu đối với người khác, hay ta nhớ lại đã từng làm hại ai trước đó và tâm ta lúc đó phát khởi hỷ lạc thì việc này cũng khiến ta tích lũy nhiều ác nghiệp.

Do đó, chúng ta nên cẩn thận và không nên hỷ lạc với những hành động xấu. Ta thường thiền quán tùy hỷ đối với những đối tượng ưa thích khi họ có niềm vui, hoặc đạt thành tựu, nhưng lại không thiền quán tùy hỷ đối với kẻ thù, người mà mình không thích khi họ đạt thành tựu, hạnh phúc, hay ta cảm thấy thoải mái khi người mà ta không thích gặp biến cố, nghịch duyên, bệnh tật… Đó là tùy hỷ lệch lạc.

Pháp luyện tâm là pháp thực hành tuyệt hảo, đơn giản, dễ hiểu. Thực hành tốt pháp rèn luyện tâm sẽ giúp ta có tâm kiên định, an lạc. Ví dụ, khi gặp trở ngại, ta nhận thức rằng trở ngại đó cũng là vô thường, rồi sẽ biến mất. Tâm ta dễ dàng áp dụng phương pháp đối trị với những chướng ngại ập đến và hiểu rõ rằng ở cõi luân hồi này không chỉ riêng mình, mà ai cũng có vấn đề, đau khổ cả.

Ở phương Tây, người ta đã áp dụng luyện tâm kết hợp với phương pháp trị liệu chữa lành những bệnh tâm lý như luôn cảm thấy bất an, lo âu, căng thẳng. Pháp luyện tâm được ghi chép ít chữ nhưng giúp cho cuộc sống ngay kiếp này có được lợi lạc lớn, điềm tĩnh an yên và gieo tâm bình an đến kiếp sau.

Cho nên, pháp luyện tâm là pháp hành chính yếu. Đức Phật dạy rằng: “Khi nói đến thực hành luyện tâm của ta thì không có gì tốt hơn ngoài việc thực hành pháp. Tinh túy của giáo pháp chính là thực hành luyện tâm của chính ta”.