07-10-2026
Lamrim 2023
Download MP3

TUẦN 144 – NGÀY 07/10/2026

CHỦ ĐỀ: BÁNH XE VŨ KHÍ LUYỆN TÂM ĐẠI THỪA – BÀI 3

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Hôm nay Thầy sẽ hướng dẫn tiếp bản văn Bánh Xe Vũ Khí Luyện Tâm Đại thừa. Trước khi bắt đầu buổi học, chúng ta sẽ có thời tụng kinh ngắn. Vào buổi học gần nhất, Thầy ở Mông Cổ. Hôm nay Thầy đã trở lại tu viện Gyuto ở Bắc Ấn nên Thầy sẽ có một thời tụng kinh ngắn. Trong lúc Thầy tụng kinh cầu nguyện, chúng ta cũng đồng thời cầu nguyện.

Thầy nhận được tin một số người qua đời, lâm bệnh, gặp tai nạn qua đường dây nóng của Dipkar. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau cầu nguyện cho họ. Chúng ta có thể ghi tên những người mà mình muốn cầu nguyện vào ô chát lớp học. Hôm nay là ngày tốt để tiến hành tụng kinh cầu nguyện trùng với việc Thầy trở lại tu viện. Chúng ta có thể thắc mắc tại sao hôm nay lại có buổi cầu nguyện. Bởi vì Thầy vừa ăn no nên cầu nguyện thoải mái (Rinpoche cười).

Trong lúc Thầy tụng kinh cầu nguyện, chúng ta hãy quán tưởng bất kỳ vị Phật nào hoặc Ruộng Phước ở phía trước mặt. Sau khi cầu nguyện xong, hãy quán tưởng vị Phật hoặc Ruộng Phước trước mặt đã chấp nhận lời thỉnh cầu của mình, sau đó từ thân của vị Phật hoặc Ruộng Phước chiếu ra ánh hào quang hòa tan vào tất cả những người mà ta cầu nguyện, giúp họ vượt qua bệnh tật và đau khổ.

Nếu muốn cầu nguyện nghiêm túc hơn, ví dụ như ta chọn Ngài Quan Âm thì sau khi cầu nguyện xong, ta quán tưởng Ngài Quan Âm chấp nhận lời thỉnh cầu của mình. Ta nghĩ rằng ánh hào quang từ Ngài Quan Âm rọi chiếu vào thân của mình và ta chuyển hóa thành Ngài Quan Âm. Nơi tim ta phóng ra ánh hào quang màu trắng, hòa tan vào tất cả những người thân, những người mà ta đang cầu nguyện. Khi những người đó tiếp nhận được ánh hào quang xuất phát từ tim của chúng ta thì họ cũng chuyển hóa thành Ngài Quan Âm, tất cả mọi trở ngại, đau khổ của họ đều được tiêu trừ. Đó là cách quán tưởng nghiêm túc hơn.

Các học trò thường hỏi Thầy làm cách nào Thầy lại luôn tràn đầy năng lượng để di chuyển nhiều nơi mà không cảm thấy mỏi mệt? Thầy nói rằng bí quyết để giữ sức khỏe của Thầy là phải ngủ đủ 8 tiếng mỗi ngày. Thầy không chỉ đi dạy pháp mà còn giữ nhiều vai trò. Khi tu viện được xây cất, với vị trí là người đứng đầu tu viện, Thầy phải kiêm luôn vai trò kiến trúc sư (Rinpoche cười). Khi làm các thí nghiệm khoa học liên quan đến giáo pháp, Thầy phải nói chuyện với các nhà khoa học. Lúc đó vai trò của Thầy như một nhà khoa học. Cho nên, nhiều lúc Thầy phải đổi vai trò, chuyển từ làm việc này sang việc khác và những việc đó hoàn toàn khác nhau. Nhưng sở thích của Thầy là đi dạo. Chúng ta cần có sở thích lành mạnh để cân bằng lại cuộc sống. Thay vì dành nhiều thời gian xem tivi, làm những việc không cần thiết, ta cần theo đuổi những sở thích lành mạnh.

Thầy tiếp tục hướng dẫn Bánh Xe Vũ Khí Luyện Tâm Đại Thừa

8. Tất cả đau khổ của chúng sinh như nhau

Do nghiệp lôi kéo, rồi quen với phiền não,

Đặt lên cái “tôi” vốn mong cầu hạnh phúc.

Đoạn kệ 8 nói rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng, chẳng ai muốn gặp đau khổ. Cho nên, khi thực hành bài kệ này, ta sẽ là người đứng ra lãnh chịu tất cả mọi đau khổ của chúng sinh. Điều quan trọng nhất cần phải hiểu rằng ai cũng như ai, tất cả mọi người đều không muốn đau khổ. Khi thực hành luyện tâm, chúng ta phải có suy nghĩ muốn đứng ra gánh chịu tất cả đau khổ thay cho chúng sinh. Vậy ta phải thực hành ước nguyện đó như thế nào? Các bước thực hành ước nguyện này đến trong đoạn kệ 9.

9. Gặp lúc bám víu vào tâm muốn cho mình

Đối lại, mang vui của mình cho chúng sinh

Cả khi xung quanh làm điều trái đến mình

Bỏ qua, thành tâm niệm rằng “Thôi, chấp nhận”.

Khi mong muốn điều gì cho bản thân, ta phải đồng thời ước nguyện điều tốt đẹp đó đến với tất cả chúng sinh. Từ đoạn kệ số 8 trở về sau, từng đoạn kệ là các bước thực hành tuần tự để bằng cách nào chúng ta có thể đứng ra gánh vác khổ đau của tất cả chúng sinh.

Hiện tại Dipkar có nhiều lớp Phật pháp được dịch ra khoảng 8-9 ngôn ngữ khác nhau. Thầy cảm thấy thử thách nhất là lúc hướng dẫn Phật pháp cho các học trò ở bên Mỹ. Bởi vì học trò Mỹ không cần phiên dịch nên Thầy phải nói suốt 1 tiếng đồng hồ. Nếu có phiên dịch, Thầy chỉ nói chừng 30 phút. Ở những lớp cần phiên dịch, Thầy nói ít. Trong lúc chờ phiên dịch thông dịch lại cho đạo tràng, Thầy uống trà, ăn bánh và chúng ta cũng thoải mái dùng trà, bánh.

Thầy luôn nhớ 2 phút giảng pháp của Thầy khi được chuyển sang ngôn ngữ khác sẽ kéo dài trong bao lâu. Ví dụ, Thầy dạy bằng tiếng Anh 2 phút thì phiên dịch sẽ mất gần 3 phút khi chuyển qua tiếng Hàn Quốc. Chuyển sang tiếng Trung Quốc mất khoảng 1 phút rưỡi hoặc gần 2 phút. Còn chuyển sang tiếng Việt thì dài hơn một chút. Đối với phiên dịch tiếng Ý, khi người dịch bắt đầu lên giọng, Thầy biết rằng họ sắp kết thúc phần dịch. Cho nên, Thầy cảm thấy giảng pháp cho học trò bên Mỹ là những buổi học thử thách nhất vì Thầy phải nói liên tục không nghỉ (Rinpoche cười).

Khi những người gần gũi với mình làm những chuyện trái ý và gây tổn hại cho mình, hãy nghĩ rằng trong quá khứ ta đã tạo ác nghiệp gây chia rẽ những người thân cận với nhau nên bây giờ ta phải gánh chịu nỗi khổ tương tự, do chính người thân cận gây ra. Suy nghĩ đó giúp ta buông bỏ được phiền não.

10. Khi thân mắc phải bệnh tật không chịu thấu,

Do từng làm việc tổn hại thân chúng sinh

Vũ khí ác nghiệp như thế quay về ta,

Nay ta xin nhận tất cả mọi bệnh tật.

Khi phải gánh chịu những khổ đau do thân bệnh gây ra, hãy suy nghĩ rằng thân bệnh đến là vì trong quá khứ, ta đã làm tổn hại đến thân thể của chúng sinh nên bây giờ phải chịu ác nghiệp bệnh tật. Suy nghĩ đó giúp ta chấp nhận phiền não do thân bệnh gây ra. Mỗi phiền não có nguyên nhân sâu xa khác nhau, nên pháp đối trị cũng phải đặc thù.

Phương Tây rất chú trọng đến phương pháp thiền chánh niệm và nhiều trường phái cho rằng thiền chánh niệm là phương cách duy nhất có thể chữa lành tất cả phiền não và tất cả cảm xúc tiêu cực trong tâm. Nhưng điều đó không chính xác, bởi vì những phiền não khác nhau có những nguyên nhân khác nhau. Ví dụ như nỗi buồn do không có được điều mình mong muốn rất khác với nỗi buồn do không có được thức ăn.

Nếu ta phải chịu khổ vì mất mát một điều gì đó trong cuộc đời thì phương pháp đối trị hữu hiệu nhất có thể là thiền quán về vô thường. Hãy nghĩ rằng sự mất mát này là do vô thường và vô thường xảy đến với tất cả mọi người, không chỉ riêng mình. Tuy nhiên, nếu chúng ta phải chịu khổ vì đói bụng thì làm gì có phương pháp thiền nào chữa lành cơn đói đó. Cách chữa lành duy nhất là chúng ta phải kiếm gì đó để ăn.

Qua trao đổi với các bác sĩ tâm thần, Thầy phát hiện ra bệnh trầm cảm hoặc những rối loạn về tinh thần đôi lúc là do suy nghĩ của người bệnh, nhưng cũng có một số bệnh nhân bị ảnh hưởng từ trong bộ gene di truyền. Nếu như gene di truyền khiến họ phải chịu căn bệnh trầm cảm thì rất khó thực hành thiền quán.

Chúng ta đã học xong Lamrim nên cần phải suy nghĩ một cách logic. Mỗi khi gặp phiền não, ta phải xác định được nguyên nhân của phiền não. Biện pháp đối trị phải là biện pháp diệt trừ nguyên nhân của phiền não. Chúng ta không đánh thẳng vào bản thân phiền não mà phải đánh vào nguyên nhân của phiền não.

Bản văn luyện tâm mô tả rất nhiều phiền não và chỉ rõ nguyên nhân của từng loại phiền não. Có nhiều phương pháp thiền quán để đối trị phiền não. Một trong những phương pháp chính thực hành luyện tâm là chấp nhận sự hiện diện của phiền não trong cuộc sống. Không chỉ chấp nhận phiền não, ta còn phải thấy được mặt tích cực của phiền não. Mặt tích cực của phiền não chính là khi chấp nhận phiền não, sự chấp nhận đó sẽ giúp chúng ta tiêu trừ và tịnh hóa ác nghiệp trước đây đã phạm.

Khi bắt đầu thấy được mặt tích cực của một vấn đề thì vấn đề đó không còn gây khó chịu cho chúng ta nữa. Và khó khăn đó sẽ trở thành cơ hội của chúng ta. Luyện tâm dạy ta cách suy nghĩ như vậy.

Thầy đặt câu hỏi: Lúc nào mà thử thách khó khăn nhất trong cuộc đời lại trở thành cơ hội tốt nhất? Trong quá khứ ông Gandhi đã bị sỉ nhục thậm tệ khi người ta quăng ông ra khỏi một chuyến tàu, dù ông có vé tàu. Chính sự kiện đó đã chuyển hóa ông và giúp ông trở thành một người lãnh đạo lỗi lạc. Nhìn kỹ lại, ta sẽ phát hiện có những thử thách xảy đến lại là ân phước vì đem đến cho mình rất nhiều điều hay. Tuy nhiên, Thầy không nói rằng để có được ân phước, ta phải đi tìm khó khăn, thử thách.

Thầy đặt một câu hỏi khác: Trong số các hành giả Tây Tạng lỗi lạc, ai là người đạt được giác ngộ nhanh nhất? Tên của vị ấy là Ensapa. Sách Giải Thoát Trong Lòng Tay có đề cập đến Ngài Ensapa. Ngài Ensapa chỉ mất khoảng 5-6 năm để thành tựu được giác ngộ mà không phải trải qua bất cứ thử thách nào. Con đường tu tập của ông ấy rất trôi chảy. Điều đó có nghĩa gì? Ta không nhất thiết phải trải qua vô vàn thử thách để đạt được thành tựu lớn. Có những lúc ta đạt được thành tựu mà chỉ cần đi qua con đường rất suôn sẻ.

Lịch sử ghi lại Ngài Ensapa là người đạt được giác ngộ nhanh nhất nhưng Thầy muốn là người giác ngộ chậm nhất. Vị hành giả được giác ngộ nhanh nhất đó là anh em họ của một học trò của Tổ Tsongkhapa nên con đường tu tập của vị hành giả đó khá suôn sẻ, không phải trải qua nhiều thử thách, chông gai. Đôi lúc những khó khăn, thử thách chính là ân phước trong cuộc đời. Tuy nhiên, Thầy không có ý nói để có được ân phước, ta phải trải qua thử thách.

11. Khi tâm ta gặp phải nhiều khổ đau

Chắc chắn từng gây náo loạn tâm kẻ khác

Vũ khí ác nghiệp như thế quay về ta,

Nay ta xin nhận tất cả mọi khổ đau.

Đoạn kệ 11 nói rằng khi tâm đau khổ có nghĩa là trong quá khứ, ta đã tạo ác nghiệp gây náo loạn tâm kẻ khác. Chính vì những ác nghiệp đó mà bây giờ ta gặp phiền não trong tâm. Pháp đối trị là phải gánh vác tất cả mọi khổ đau của chúng sinh. Đoạn kệ 11 rất quan trọng nên bài tập về nhà tuần này là học thuộc lòng đoạn kệ 11 và lúc nào cũng nhớ đến bài kệ này để áp dụng thực hành. Việc nỗ lực học thuộc lòng một điều gì đó sẽ giúp ta tăng cường trí nhớ.