29-07-2026
Lamrim 2023
Download MP3

TUẦN 134 – NGÀY 29/07/2026

CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Trước hết Thầy chúc mừng chúng ta đã kết thúc khóa học Lamrim. Sau khi kết thúc Lamrim, chúng ta sẽ lên lớp Luyện tâm. Trước khi chuyển sang lớp Luyện tâm, chúng ta sẽ có một bài kiểm tra trắc nghiệm nhỏ. Sau khi hoàn tất bài kiểm tra, Thầy sẽ trao chứng chỉ hoàn tất học phần Lamrim cho học viên. Thầy nghĩ chúng ta sẽ vui hơn khi thấy tên mình có trên chứng chỉ.

Trong buổi hôm nay Thầy sẽ có vài điểm đúc kết về thiền quán tánh không trong Lamrim. Sau các bước thiền quán về nhân vô ngã là thiền quán về pháp vô ngã.

Ở gần cuối ngày thứ 22, sau khi đã bàn về nhân vô ngã, Lamrim nói đến pháp vô ngã. Pháp vô ngã ở đây chủ yếu nói đến tánh không của thân vật lý. Khi tiếp tục thiền quán về pháp vô ngã, có một số điểm quan trọng: Khi thiền quán về pháp vô ngã, một lần nữa ta phải chất vấn xem thân có phải là ngã hay không. Thân không phải là ngã. Tuy nhiên, theo bản năng, khi nhìn thấy thân của ông A, ngay lập tức ta nghĩ rằng mình vừa thấy ông A. Khi thấy thân của ông A già đi, ta lại nghĩ rằng ông A đang già đi. Thực tế, thân của ông A không phải là ông A, nhưng ta vẫn gán đặt danh tính ông A lên thân của ông A. Mặc dù ta có thể hiểu rằng thân của ông A không phải là một với danh xưng ông A, nhưng ta vẫn dùng danh xưng ông A để ám chỉ thân của ông A. Khi thiền quán, ta phải tự hỏi tại sao mình luôn có khuynh hướng dùng danh tính ông Á để ám chỉ cho thân của ông A. Ta phải phân tích tại sao mình lại suy nghĩ theo hướng đó?

Nếu bây giờ ta có thể đổi thân của mình để lấy thân của Đức Phật, ta có sẵn lòng đổi hay không? Nếu ta có năng lực đổi thân của mình với thân của người khác, ta có đổi hay không? Cho dù ta trả lời là “có” hay “không” thì ngay thời điểm ta trả lời là “tôi không muốn đổi” hoặc “tôi muốn đổi” đã chứng minh một điều rằng ta đang xem thân này là vật sở hữu của mình, tức ta là người sở hữu cái thân này. Nếu có một mối quan hệ giữa người sở hữu và vật bị sở hữu thì hai cái đó không thể là một được. Nếu ta đã xem thân này là vật sở hữu của mình thì thân này không phải là mình.

Nếu ta có thể đổi tâm của mình với tâm của Đức Phật thì ta có đổi không? Nếu ta trả lời là “ta muốn đổi”, rõ ràng ta xem mình đang có quyền sở hữu đối với tâm của mình. Chính vì xem đó là vật sở hữu của mình, nên ta sẵn sàng đẩy nó đi nếu mình muốn đổi hoặc giữ nó lại nếu mình không muốn đổi. Nếu nghĩ như vậy, rõ ràng vật sở hữu đó không phải là cùng một thực thể với mình. Cho nên, tâm không phải là mình và thân cũng không phải là mình theo cách lập luận đó. Tuy nhiên, lúc nhìn vô gương, ta thấy thân của mình già đi, nhưng ta lại nghĩ rằng “tôi đang già đi”, mà chẳng bao giờ nghĩ rằng thân của mình đang già đi. Khi thấy thân mình béo lên, ta lại nghĩ rằng “tôi đang bị lên cân”, mà chẳng bao giờ nghĩ rằng “cái thân của tôi đang tăng cân”.

Bây giờ một câu hỏi quan trọng tiếp theo là “bản chất của thực tại là như thế nào?”, “thân của mình có phải là mình hay không?”, “thân của ông A có phải là ông A hay không?”. Ta đang trong một trạng thái rất hoang mang, có lúc ta cảm giác thân này là mình, có lúc ta cảm giác thân này không phải là mình. Bởi tâm đang trong trạng thái hoang hoang và vô minh về thực tại nên tất cả mọi phiền não đều phát sinh ngay sau đó.

Trong tranh biện kinh điển, một kỹ thuật tranh biện là phải làm cho đối phương rối bời, khi tâm rối bời thì họ sẽ lập luận sai rất nhiều.

Trong lúc thiền quán, ta bắt đầu lập luận cho bản thân thấy rằng “thân không phải là tôi”, “tâm cũng không phải là tôi”, “thế thì tôi là ai?”. Đối với câu hỏi này, ta phải tự tìm câu trả lời. Khi ta nghiêm túc đặt câu hỏi “tôi là ai?” thì toàn bộ quá trình thiền quán mới thực sự bắt đầu.

Trong quá trình thiền quán về tánh không, ta phải đạt đến một trạng thái rằng ta có một niềm tin rất vững chắc rằng cái ngã là do tâm phóng chiếu, không hiện hữu chân thật. Khi ta đạt được tiến bộ trong thiền quán về nhân vô ngã, tức là ta phát hiện ra cái ngã không hiện hữu chân thật mà chỉ do tâm phóng chiếu, do tâm gán đặt thì ta áp dụng trí tuệ đó lên tất cả các pháp khác. Ví dụ, ta dần dần phát hiện ra cơn đau, nỗi buồn cũng không hiện hữu chân thật mà do tâm phóng chiếu ra, v.v… Mọi thứ sẽ rất dễ dàng sau khi ta chứng được nhân vô ngã. Thậm chí, ta nhận ra rằng hạnh phúc, niềm vui cũng không hiện hữu chân thật, những cảm xúc đó cũng là do tâm phóng chiếu.

Ở thời điểm ta thấy cả đau khổ và hạnh phúc đều không hiện hữu chân thật, chỉ là kết quả gán đặt của tâm thì ta sẽ không còn bám chấp vào hạnh phúc, không còn tìm cách trốn chạy đau khổ. Trạng thái không đi tìm hạnh phúc, cũng không trốn chạy đau khổ, đó là giác ngộ. Người đã giác ngộ thì không truy tìm hạnh phúc, cũng không trốn chạy đau khổ.

Đó là lý do Đức Phật dạy chúng ta trước hết phải hiểu được nhân vô ngã, để thấy rằng ngay cả ngã của mình không có hiện hữu chân thật mà chỉ là do tâm gán đặt. Sau khi hiểu được nhân vô ngã, ta áp dụng cùng một phương pháp đó lên tất cả các sự vật, hiện tượng như phiền não, niềm vui, v.v… để thấy rằng tất cả mọi thứ đều không hiện hữu chân thật, mà là do tâm phóng chiếu.

PHẦN HỎI ĐÁP

Câu hỏi 1: Thưa Rinpoche, khi thực hành thiền đổi địa vị giữa mình với người khác, con cần phải xem thân và tâm của mình như thế nào?

Rinpoche trả lời: Khi nói đến thiền quán đổi địa vị giữa mình với người khác, danh tính cái ngã của mình không thể nào đổi được. Ta chỉ có thể nghĩ đổi những gì cho là của mình, thuộc sở hữu của mình. Ví dụ, ta nghĩ thân này là của mình, tâm này là của mình thì ta có thể nghĩ đổi thân và tâm của mình cho người khác, chứ không thể nào nghĩ rằng ta đổi cái ngã của mình cho người khác.

Câu hỏi 2: Nếu như mục đích của giác ngộ không phải là đi tìm hạnh phúc. Vậy mục đích thực sự của giác ngộ là gì?

Rinpoche trả lời: Thầy vẫn luôn dạy chúng ta phải sống mạnh mẽ và hạnh phúc. Lời khuyên đó dành cho những người mới học căn bản. Nếu đi sâu hơn, tại sao ta lại đau khổ? Ta cảm nhận được đau khổ bởi vì ta từng cảm nhận được hạnh phúc. Nếu chúng ta chưa bao giờ cảm nhận hạnh phúc thì sẽ chẳng bao giờ cảm nhận được đau khổ. Một người chưa từng nếm vị ngọt thì sẽ không cảm nhận được vị chua. Tương tự như vậy, ta cảm nhận được đau khổ vì ta đã từng cảm nhận được hạnh phúc. Ta chỉ có thể thoát khỏi đau khổ khi không còn bám chấp vào cảm giác hạnh phúc. Mục tiêu của giác ngộ là diệt trừ tâm bám chấp vào hạnh phúc. Cho dù hạnh phúc có đến thì tâm không bám chấp vào nó. Khi đó, ta mới có được trạng thái an lạc thực thụ. Cho nên, Đức Phật nói rằng giác ngộ là an lạc.

Người đang ngủ lúc nào cũng an lạc. Nếu ta đang quá phấn khích, quá vui thì sẽ không ngủ được. Khi quá phấn khích, ta sẽ không cảm giác được an lạc nội tâm nên sẽ không ngủ được. Đạt đến tâm an lạc thoát khỏi bám chấp vào hạnh phúc, hoặc trốn chạy đau khổ là một trạng thái vượt xa khái niệm hạnh phúc bình thường. Ban đầu Thầy hướng dẫn chúng ta sống mạnh mẽ và hạnh phúc. Chữ “hạnh phúc” trong lời khuyên của Thầy rất căn bản. Bây giờ chúng ta đã học đến trình độ này thì phải đi xa hơn. Đó là phải kiến tạo được an lạc nội tâm thực thụ. Đức Phật dạy rằng giác ngộ là an lạc. Thời điểm ta đạt đến tâm an lạc, trạng thái đó sâu sắc hơn rất nhiều so với cảm giác hạnh phúc thông thường.

Khi Đức Phật còn là thái tử sống trong hoàng cung, Ngài đã cảm nhận được hạnh phúc, đau khổ…, nhưng Ngài không cảm nhận được an lạc. Do đó, Ngài đã rời bỏ cung điện để tìm an lạc thực sự.

Câu hỏi 3: Thưa Rinpoche, làm thế nào để biết được chúng con đủ điều kiện học Kim Cang Thừa sau khi hoàn tất khóa học Lamrim?

Rinpoche trả lời: Chúng ta không cần lo lắng bản thân có đủ điều kiện lên lớp Kim Cang Thừa hay không. Điều chúng ta cần quan tâm là Thầy có đủ khả năng để giảng dạy Kim Cang Thừa cho chúng ta hay không. Thầy có thể khẳng định rằng Thầy có đủ phẩm chất để dạy Mật pháp Kim Cang Thừa cho chúng ta vì Thầy đang là Viện trưởng của Mật viện nổi tiếng nhất thế giới, có lịch sử 600 năm thực hành Kim Cang Thừa. Cho nên, Thầy tự tin có thể hướng dẫn các pháp tu Kim Cang Thừa.

Câu hỏi 4: Thầy nói rằng khi có ai la mắng mình, tâm ta bị tức giận nhưng không ảnh hưởng đến thân của mình. Nhưng con thấy thân mình bị ảnh hưởng vì con cảm thấy bị tức ngực. Thầy có thể giải thích thêm hay không?

Rinpoche trả lời: Khi ta bị ai đó làm cho tức giận, ta bắt đầu cảm thấy đau ngực là dấu hiệu cho thấy cơn giận đó quá mãnh liệt. Ví dụ, khi ai đó làm tổn thương mình một chút ít thôi, ta sẽ không thấy cơn giận đó biến thành một cơn đau trên thân. Chỉ khi nào cơn giận đó quá mãnh liệt, ta mới bắt đầu cảm nhận được nỗi đau trên thân.

Câu hỏi 5: Thưa Rinpoche, đau khổ và hạnh phúc là cảm xúc của con người. Khi ta nhận ra cái tôi không hiện hữu chân thật thì sẽ không còn bám chấp vào cảm xúc đau khổ hay hạnh phúc đó nữa. Nhưng cảm xúc vẫn tồn tại đúng không?

Rinpoche trả lời: Quan điểm này đúng ở chỗ cho dù không có tồn tại cái ngã nhưng vẫn có tồn tại những cảm xúc của con người. Ví dụ như lòng từ bi. Những người chứng được vô ngã vẫn có tâm từ bi. Tâm từ bi đó cũng là một dạng cảm xúc. Cho nên, thậm chí cho dù ta không chấp ngã, nhưng ta vẫn có cảm xúc như tâm từ bi.

Câu hỏi 6: Thầy có thể hướng dẫn thêm về cách làm chủ cảm xúc của mình?

Rinpoche trả lời: Thực ra, việc kiểm soát cảm xúc không phải là điều quá quan trọng. Điều ta cần quan tâm là phải kiểm soát được những phiền não như bám chấp, sân giận… Những cảm xúc không có tổn hại đến mình như vui vẻ, lòng từ bi thì ta không cần kiểm soát. Những cảm xúc ta cần kiểm soát là những cảm xúc làm hủy hoại an lạc của mình như bám chấp, sân giận… Làm sao để kiểm soát những phiền não này? Ta đã học xong Lamrim thì phải tự suy nghĩ, phân tích và tìm pháp đối trị phù hợp nhất để diệt trừ các phiền não này.

Câu hỏi 7: Thưa Rinpoche, con mèo của con bị đau chân nên con thiền quán cho và nhận, sau đó con bị đau cánh tay. Nếu mọi pháp là vô ngã, tại sao con lại cảm thấy lại đau ở tay?

Rinpoche trả lời: Có một điểm quan trọng ta cần phải hiểu là khi nói rằng ta cảm giác bị đau, nỗi đau đó lại là một sản phẩm của tâm gán đặt. Thầy không nói rằng cơn đau trên tay là không hiện diện, nhưng cách cơn đau hiện diện là do tâm mình tạo ra. Ăn phải chất độc cũng là một nỗi đau. Những cặp đôi trẻ khi trao cho nhau tình thương yêu, đó cũng là một dạng cảm xúc. Tất cả những cảm xúc sung sướng, đau đớn… đều là sản phẩm của tâm gán đặt.

Thầy kể câu chuyện: Cách đây rất lâu khi Thầy ở Ý, lúc đó thầy đang dùng bữa trong một nhà hàng. Bên cạnh nhà hàng có một tiệc cưới đang diễn ra. Cặp đôi đó đang trao nhẫn cưới cho nhau. Đi cùng với Thầy hôm đó là một vị sư lớn tuổi. Khi vị thầy lớn tuổi vô tình thấy cặp đôi kia trao nhẫn cưới thì lắc đầu và nói nhỏ rằng: “Ôi, thật là khổ!”. Cùng một hoàn cảnh, cặp đôi cảm thấy vô cùng hạnh phúc, còn nhà sư lại thấy thật là khổ. Rõ ràng, hạnh phúc hay khổ đau đều do tâm phóng chiếu, gắn đặt lên cảnh bên ngoài. Đức Phật dạy rằng tất cả mọi pháp không thực hữu, không tồn tại chân thật, chỉ là sản phẩm do tâm gán đặt.

Câu hỏi 8: Thưa Rinpoche, có ranh giới giữa vô cảm và vô ngã hay không?

Rinpoche trả lời: Vô ngã hay hơn vô cảm rất nhiều. Nếu ta trở nên vô cảm thì sẽ giống như một cái cây. Bản thân Đức Phật cũng có cảm xúc. Nhưng điều khác biệt ở Đức Phật là Ngài không có những cảm xúc cực đoan, trong khi những người phàm phu có cảm xúc cực đoan. Cảm xúc của mình bị đẩy đến điểm cực đoan là vì ta có tất cả những phiền não như chấp ngã, sân giận, bám chấp, đố kị v.v… Những phiền não đó làm cho cảm xúc đi đến chỗ cực đoan.

Câu hỏi 9: Thưa Rinpoche, con vẫn cảm thấy khó khăn khi kiểm soát cảm giác tức giận và bị tổn thương khi một người từng thân thiết với mình lại quay lưng với mình. Dù con hiểu rằng tình bạn đó vốn dĩ dựa trên lợi ích, chứ không phải là tình bạn thực sự, nhưng khi mối quan hệ đó bị rạn nứt, con vẫn cảm thấy tức giận và tổn thương rất lâu.

Rinpoche trả lời: Thầy có thể hiểu được cảm giác khó chịu như thế nào khi tình bạn bị đổ vỡ. Trước hết, ta phải tìm hiểu xem tại sao tình bạn lại rạn nứt. Một vài lý do có thể là không có sự thấu hiểu giữa đôi bên, có lúc là do thiếu sự tin tưởng lẫn nhau. 90% tình bạn bị đổ vỡ là do chấp ngã. Ta phải nhìn lại xem tại sao tình bạn đi đến chỗ đổ vỡ. Nếu ta phát hiện ra nguyên nhân khiến mối quan hệ đổ vỡ là do tâm chấp ngã và một khi đã thấy được tác hại của tâm chấp ngã thì ta phải xem đó là một bài học.

Mặt khác, khi trải qua một mối quan hệ đổ vỡ như thế, ta sẽ hiểu thêm về cuộc đời (Rinpoche cười). Cuộc đời này không có gì hoàn hảo cả. Chính vì không hoàn hảo nên Đức Phật gọi thế giới này là luân hồi. Điều thứ nhất là không có gì hoàn hảo trong cuộc đời này, không phải mọi chuyện đều diễn ra như ý muốn. Điều thứ hai là tình trạng bất như ý đó cũng xảy ra với tất cả mọi người, chứ không chỉ xảy ra với mình. Ai cũng từng trải qua đổ vỡ, chứ không chỉ riêng mình. Có trải nghiệm đó cũng được xem là một phần của quá trình trưởng thành (Rinpoche cười).