15-07-2026
Lamrim 2023
Download MP3

TUẦN 132 – NGÀY 15/07/2026

CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT (tiếp theo)

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Ở buổi học trước, Thầy đã hướng dẫn bốn điểm quan trọng nhất của tánh không và thiền quán về hai câu hỏi: “Tôi là ai?” và “Cái ngã đang ở đâu?”. Thiền quán hay thiền phân tích là công cụ vô cùng quan trọng khi thực hành tánh không. Trong thời thiền chúng ta đặt ra câu hỏi hoặc chủ đề nào đó rồi nỗ lực đi tìm câu trả lời cho câu hỏi đó thì quá trình đó gọi là thiền quán. Đối với tánh không, đầu tiên ta triển khai thiền quán về tánh không của ngã (nhân vô ngã). Sau đó, ta triển khai các bước tương tự để thiền quán về pháp vô ngã: các pháp bên ngoài không có tự tánh, không tồn tại độc lập.

Điểm mấu chốt sau cùng, như được hướng dẫn trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay, là ta cần đi đến sự chứng ngộ rằng tất cả các sự vật, hiện tượng, bao gồm cả ngã, đều không tự hiện hữu. Bản chất cái ngã mà chúng ta tri nhận sai lầm từ trước đến nay đều do tâm gán đặt. Nếu ta hiểu được điểm mấu chốt này thì rất tốt. Tất cả các sự vật, hiện tượng mà chúng ta tri nhận, như nghĩ rằng có cái ngã tồn tại độc lập, tức cái ngã sai lầm, thì đều không hiện hữu chân thật mà chỉ là kết quả của tâm gán đặt.

Khi mới bắt đầu học Phật pháp, Thầy luôn khuyên học trò phải sống mạnh mẽ và hạnh phúc, phải giảm bớt suy nghĩ tiêu cực, nỗ lực suy nghĩ tích cực để có thể sống an vui. Đó là cách tiếp cận của người mới học. Bây giờ đã học đến tánh không, chúng ta phải vượt lên khỏi khái niệm của đau khổ và hạnh phúc. Không chỉ đau khổ không có hiện hữu chân thật mà ngay cả hạnh phúc cũng không hiện hữu chân thật. Tất cả những cảm xúc như hân hoan, hạnh phúc, an lạc hay đau khổ đều là do tâm phóng chiếu ra rồi gán đặt lên những pháp do duyên sinh, không có hạnh phúc hay an lạc nào tự tồn tại độc lập.

Gần đây một nhóm người Nga đến tu viện Gyuto đảnh lễ Thầy. Một người phụ nữ đã nói với Thầy rằng cô ấy có vài đứa con và hỏi Thầy: “Con nên xem con cái là gánh nặng trong cuộc đời mà mình phải lo toan hay xem con cái là một ân phước? Cách nghĩ nào mới đúng với thực tại?”. Thầy trả lời rằng không có gì là thật. Tất cả các sự vật, hiện tượng đều là giả dối, nên khi đã học lý thuyết tánh không và đã thực hành tánh không thì cách chúng ta nhìn thế giới bên ngoài phải ở tầng mức cao cấp hơn.

Thầy kể câu chuyện: Có một tên trộm ở ngôi làng kia. Tên trộm này đang gặp khó khăn vì hắn phải đi hết chỗ này đến chỗ kia để ăn cắp và rất sợ bị bắt. Tên trộm biết được người dân trong làng hay mang đồ đến cúng dường cho một vị thầy. Hắn nghĩ rằng vị thầy ấy thật sung sướng vì không cần phải làm gì, không cần phải đi ăn trộm, ngồi một chỗ rồi người ta mang cúng phẩm đến dâng lên. Rồi tên trộm nghĩ mình nên trở thành một vị thầy. Thế là hắn quan sát cách vị thầy ăn mặc, nói chuyện… rồi bắt chước y hệt và trở thành bản sao hoàn chỉnh của vị thầy đó. Tên trộm khá thông minh nên bắt chước vị thầy rất nhanh, hành xử, ăn nói y hệt như vị thầy. Tên trộm mới nghĩ đến chuyện rời bỏ ngôi làng và lên thành phố lớn, ở đó không ai nhận ra hắn và hắn sẽ được cúng dường nhiều tiền, nhiều thực phẩm hơn.

Trong quá trình giả làm nhà sư, tên trộm phát hiện nếu từ chối vật phẩm cúng dường nào, người ta lại cúng dường món đó nhiều hơn. Ví dụ, hôm nào muốn ăn nấm thì nói “tôi không nhận nấm”, hôm nào muốn có gạo thì nói “tôi không nhận gạo”, khi muốn có tiền thì nói “tôi không nhận tiền”. Càng từ chối, người ta càng cúng dường nhiều hơn. Đó là những diễn ra với tên trộm. Một đêm nọ, tên trộm bỗng suy nghĩ: “Không ngờ cuộc sống trở nên dễ dàng đến như vậy. Mình không cần phải làm gì, không cần đi ăn trộm, người ta vẫn mang tiền đến cúng dường cho mình, không cần nấu ăn vì luôn có người cúng dường thực phẩm. Chỉ mới làm một vị sư giả thôi mà đã sung sướng thế này, nếu trở thành vị sư chân chính thì có lẽ còn sướng hơn thế nữa”. Và tên trộm quyết định phải trở thành vị thầy chân chính.

Sáng hôm sau, vì nghĩ mình nên là vị thầy chân chính, tên trộm đã vứt hết cúng phẩm vào đống lửa. Và hắn phát hiện rằng một vị thầy chân chính không kiếm được nhiều của cải vật chất, khi nghĩ đến việc truy cầu của cải vật chất thì không bao giờ là vị thầy chân chính được.

Tương tự như vậy, khi đã học và thiền quán về tánh không, chúng ta bắt đầu phát hiện tất cả sự vật, hiện tượng đều trình hiện sai lầm, đều không có tự tính, không hiện hữu chân thật như ta đã từng thấy. Bây giờ chỉ có hai cách: hoặc xem tất cả các pháp là có thật như đã từng nghĩ trước đây, hoặc xem tất cả các pháp không có hiện hữu chân thật.

Thầy lấy ví dụ, nếu bẻ gãy cây bút thành hai phần rồi hai phần đó được chặt ra làm đôi nữa, cứ tiếp tục chặt làm đôi liên tục như vậy thì rốt cuộc sẽ chạm đến các hạt nguyên tử trong cây bút, rồi đến các hạt hạ nguyên tử. Cứ tiếp tục chia như thế thì cuối cùng chúng ta sẽ chạm đến tánh không của cây bút. Đó chính là xuất phát điểm của toàn vũ trụ này.

Không có pháp nào tự hiện hữu chân thật cả. Chỉ có một điều duy nhất hiện hữu chân thật, đó là Dipkar. Đức Phật mà nghe nói Dipkar hiện hữu chân thật thì Ngài chắc chắn sẽ bác bỏ quan điểm đó. Nhưng nếu Ngài tham gia Dipkar thì chắc Ngài sẽ công nhận quan điểm đó (Rinpoche cười).

Trong quá trình tu học Phật pháp, có nhiều tầng mức thấu hiểu, diễn giải và tri nhận các pháp. Nên nhớ rằng chúng ta có quyền chọn cách tri nhận các pháp. Thầy thường nói những người thực thụ hiểu được tánh không luôn gặp một vấn đề: Bởi vì họ không nhìn các pháp hiện hữu chân thật mà chỉ thấy tánh không của các pháp, nên họ không tận hưởng được thức ăn ngon. Bởi vì không có cái gì là thức ăn ngon hiện ra trước tâm của họ mà chỉ có tánh không của thức ăn. Đó là vấn đề của người chứng được tánh không. Cho nên, nếu còn muốn hưởng thụ thức ăn ngon thì đừng vận dụng tánh không. Nếu muốn thực hành tánh không thì đừng mong cầu sẽ còn hưởng được vị ngon của thức ăn. Giống như tên trộm muốn kiếm tiền thì chỉ cần làm sư giả, còn nghĩ trở thành nhà sư chân thật thì đừng mong kiếm tiền.

Để hiểu tại sao Đức Phật dạy tánh không, chúng ta cần hỏi bản thân tại sao ta cảm thấy buồn khổ? Ta cảm thấy buồn khổ vì đã từng trải qua cảm giác an lạc, hạnh phúc. Nếu không biết cảm giác hạnh phúc thì ta cũng không cảm nhận được đau khổ. Tương tự như một người chưa từng ăn chua thì người đó không cảm nhận được vị ngọt. Chua, ngọt đối với người đó là như nhau.

Thông điệp của Đức Phật khi giảng dạy tánh không là nếu quá chú trọng đến việc tìm kiếm hạnh phúc và khát vọng được hạnh phúc quá lớn thì chúng ta sẽ không bao giờ tự giải thoát khỏi đau khổ. Nếu sợ vị chua, không muốn nếm trải vị chua thì tốt nhất chúng ta đừng ăn ngọt. Trong quãng đời còn lại, chúng ta không bao giờ nếm vị ngọt, khi đã quên vị ngọt thì sẽ không còn phân biệt được vị chua nữa.

Khi dạy tánh không, Đức Phật đã khẳng định rằng hạnh phúc không hiện hữu chân thật, cả đau khổ cũng không hiện hữu chân thật và tất cả các pháp đều không hiện hữu chân thật. Nhưng khi các pháp xuất hiện trước tâm thức, tâm lại phóng chiếu một nhãn rồi gán đặt lên các pháp đó. Điều ấy khiến ta bám chấp vào những nhãn do tâm gán đặt, rồi nghĩ một cách sai lầm rằng những pháp đó hiện hữu chân thật. Tất cả các pháp đều là sự lừa dối, không có hiện hữu chân thật. Chỉ có một điều chân thật, chắc chúng ta đã biết là điều gì rồi (Rinpoche cười).

Thầy lấy ví dụ, nếu Thầy đưa một tờ giấy theo cách Thầy đang cầm tờ giấy lúc này, chúng ta có cảm thấy bị phiền không? Thầy biết rằng chúng ta sẽ không cảm thấy khó chịu. Nhưng cùng cách thức đó, nếu Thầy đưa tờ giấy cho người Nepal thì họ sẽ không vui. Bởi vì Thầy cầm tờ giấy bằng tay trái, trong khi truyền thống của người Nepal là dùng tay phải khi đưa đồ cho người khác. Nếu Thầy dùng tay phải sẽ làm người Nepal vui nhưng người Tây Tạng sẽ không vui. Bởi vì truyền thống Tây Tạng là phải dùng hai tay đưa đồ cho người khác. Bây giờ, nếu Thầy kẹp tờ giấy giữa hai ngón tay thì người Nepal, người Tây Tạng sẽ vui nhưng người Mông Cổ sẽ không vui, vì kẹp món đồ vào giữa hai ngón tay và đưa cho người khác là hành vi thô lỗ đối với người Mông Cổ. Nếu Thầy đặt tờ giấy trên hai lòng bàn tay thì người nào cũng vui, trừ người Nhật. Bởi vì truyền thống của người Nhật là đặt đồ trên bàn rồi đẩy về phía họ. Vậy cách nào là đúng nhất? Nếu có cách được cho là đúng đắn nhất thì tất cả những cách còn lại cũng phải là đúng. Còn nếu một trong những cách này sai thì những cách còn lại cũng phải là sai.

Đức Phật sinh ra ở Nepal, là người Nepal và chắc chắn Ngài không bao giờ nói cách của người Nepal là đúng. Cho nên, khi dạy tánh không, Ngài nói rằng tất cả các pháp đều hiện hữu sai lầm, không có cái gì hiện hữu chân thật. Khi một pháp sai lầm trình hiện trước tâm ta, cho dù tâm ta cho rằng pháp đó hiện hữu chân thật thì bản thân tâm đó cũng là một tâm sai lầm.

Bây giờ chúng ta phân tích bản chất của tâm. Bản chất sự vật, hiện tượng không hiện hữu chân thật nhưng tâm lại nhìn sự vật hiện tượng đó là có hiện hữu chân thật. Bản chất của tâm là gì? Về điểm này, các nhà khoa học vẫn còn thảo luận, chưa đi đến quyết định sau cùng. Tánh không là một điểm triết lý rất khó trong Phật pháp.

Chúng ta đã đi đến phần cuối của quyển Giải Thoát Trong Lòng Tay, sau đó sẽ học qua Kim Cương Thừa. Trước khi chính thức kết thúc khóa học, chúng ta sẽ làm bài kiểm tra kiến thức của phần Giải Thoát Trong Lòng Tay. Chúng ta đừng lo lắng về bài kiểm tra vì ở đây không có đậu rớt, mà mục đích của bài kiểm tra là giúp chúng ta tự kiểm tra kiến thức. Sau đó, chúng ta sẽ học về Kim Cương Thừa.

Điểm khó nhất là tánh không, nên 70% giáo lý Đức Phật nói về tánh không. Tánh không cũng là một điểm vô cùng khó đối với Tổ Tsongkhapa. Ở Tây Tạng Tổ Tsongkhapa không tìm được vị thầy nào có thể làm rõ tất cả các điểm nghi của Ngài về tánh không. Vì thế, Ngài chỉ dựa vào Đức Văn Thù để hiểu về tánh không.

Điểm mấu chốt chúng ta cần ghi nhớ là tất cả các pháp đều không hiện hữu chân thật. Sự hiện hữu chân thật mà chúng ta nghĩ là các pháp có đều do tâm phóng chiếu ra và gán đặt lên những pháp không có thật. Chỉ có Dipkar là có thật thôi (Rinpoche cười).

Chúng ta đã có tri kiến là tất cả các pháp không hiện hữu chân thật. Nhưng đối với những người chưa hiểu được điểm này, họ sẽ vô cùng đau khổ. Đau khổ sẽ liên tục phát sinh ở những người không nhận ra rằng các pháp không hiện hữu chân thật. Là người thực hành tánh không, chúng ta phải phát triển lòng bi mẫn đối với những người chưa đạt đến sự thấu hiểu này. Đức Phật nhấn mạnh điểm này rất nhiều lần, rằng chúng ta phải phát sinh lòng từ bi với những người chưa hiểu được tánh không của các pháp. Vì không hiểu được tánh không của các pháp, nên họ nghĩ rằng ngã là thực hữu và tồn tại độc lập, từ đó sinh tâm chấp ngã. Từ tâm chấp ngã này, họ khởi sinh các suy nghĩ tiêu cực, dẫn đến phải chịu khổ đau.

Lần trước ở bên Ý, một số nhà khoa học mời Thầy đến tham dự một chương trình. Khi chào những người đó, Thầy đã chắp hai tay lại trước ngực và Thầy giải thích hành động chắp hai tay lại khi chào người khác biểu trưng cho việc từ bỏ cái ngã của mình. Một nhà khoa học chia sẻ với Thầy rằng: “Lần sau tôi gặp Thầy chắc tôi không chỉ chắp hai tay lại mà phải chạm đầu xuống sàn nhà. Bởi vì cái ngã của tôi rất lớn”.

Khi nào còn cho rằng cái ngã tồn tại chân thật độc lập và nó có sự hiện hữu riêng thì chúng ta còn chấp ngã. Chấp ngã khiến cái tôi ngày càng lớn. Cái tôi càng lớn khiến ta bám chấp càng sâu. Tâm bám chấp sẽ làm phát sinh sân giận, từ đó tất cả các đau khổ sẽ đến với chúng ta.

Trước khi chính thức kết thúc lớp Lamrim, chúng ta sẽ làm một bài kiểm tra kiến thức, sau đó sẽ học lên Kim Cương Thừa. Trong lớp Kim Cương Thừa, chúng ta sẽ không nhận được bản ghi âm từ Ban tổ chức lớp học mà phải tham dự đầy đủ tất cả các buổi học để theo được lớp. Thầy rất vui khi chúng ta kết thúc khóa Lamrim và chuyển lên lớp Kim Cương Thừa.

Có một vấn đề khi chúng ta học Mật pháp Kim Cương Thừa: Lớp Kim Cương Thừa cũng không hiện hữu chân thật, là một trình hiện sai lầm. Đức Phật đã nói rằng tất cả các trình hiện đều sai lầm, không có hiện hữu chân thật.

Điểm khó nhất ở đây, như Tổ Tsongkhapa đã nói, tất cả các pháp không hiện hữu chân thật, nhưng công năng của các pháp là có thật. Ví dụ, khi nhìn sợi dây với con rắn, sợi dây không hiện hữu chân thật, con rắn cũng không hiện hữu chân thật. Nhưng hai cái không chân thật đó khác nhau. Sợi dây không làm được công năng của con rắn và con rắn cũng không làm được công năng của sợi dây. Đây là điểm mấu chốt mà Tổ Tsongkhapa đã lĩnh hội trực tiếp từ Ngài Văn Thù. Chúng ta cần hiểu rằng con rắn không hiện hữu chân thật, sợi dây cũng không hiện hữu chân thật và dù hai pháp này đều không hiện hữu chân thật nhưng con rắn có công năng của con rắn và sợi dây không có công năng của con rắn.

Chúng ta có hiểu điểm này không? Nếu chúng ta trả lời là chưa hiểu thì cũng tốt. Còn nếu chúng ta trả lời là hiểu thì Thầy khá lo lắng không biết chúng ta hiểu đúng hay hiểu sai. Nếu chúng ta không hiểu gì hết thì không có cơ hội hiểu sai, còn nếu hiểu chút ít thì có thể là hiểu sai.

Trước thời của Tổ Tsongkhapa ở Tây Tạng có rất nhiều vị thầy lớn cũng hiểu sai về tánh không. Thậm chí các vị ấy còn viết rất nhiều bộ luận diễn giải cái hiểu của mình về tánh không, nhưng diễn giải của họ lại không đúng với những gì Tổ Tsongkhapa khám phá ra sau này. Chỉ có một vài người hiểu đúng về tánh không. Một trong những người hiểu đúng về tánh không là Tổ Tsongkhapa. Một người khác là Tổ Longchenpa. Ông nội, cha và các chú của Thầy đều theo dòng truyền thừa của Tổ Longchenpa. Trong khi đó, vì Thầy được công nhận là tái sinh của một vị thầy trong dòng truyền thừa Gelug, nên Thầy được học lý luận theo dòng truyền thừa của Tổ Tsongkhapa. Khi mẹ của Thầy mang bầu Thầy, ông của Thầy đã nằm mộng thấy mẹ Thầy ẵm một đứa bé và dâng vật phẩm cúng dường lên pho tượng của Tổ Tsongkhapa. Lúc đó trong nhà của Thầy hoàn toàn không có pho tượng của Tổ Tsongkhapa. Cho nên, ông của Thầy khẳng định sẽ có tái sinh của một vị Rinpoche theo dòng truyền thừa của Tổ Tsongkhapa ngay trong ngôi nhà của mình.

Tổ Tsongkhapa và Tổ Longchenpa cùng tu học ở một tu viện, nhưng lý luận của hai vị tổ này đi theo hai hướng khác nhau. Cách tiếp cận là khác nhau nhưng cách diễn giải về tánh không đều chính xác như nhau.

Thầy kể câu chuyện: Có một người đến thăm ngôi làng và muốn lên đỉnh của ngọn núi để ngắm tu viện từ trên cao. Anh ta hỏi người trong làng chỉ cho anh ta biết người nào chân thật nhất làng và người lúc nào cũng nói dối trong làng. Gặp được hai người đó, anh ta đã hỏi họ con đường nào là tốt nhất đi đến tu viện. Người chân thật nói anh ta phải đi qua đường núi rồi mới đến được tu viện. Người nói dối cũng trả lời anh ta y hệt như vậy. Anh này rất bối rối tại sao hai người, một người chân thật và một người dối gạt, lại đưa ra cùng câu trả lời. Anh ta mới đi gặp một vị thầy. Vị thầy giải đáp thắc mắc của anh ta rằng: “Nội dung hai câu trả lời là như nhau nhưng động cơ đằng sau hoàn toàn khác nhau. Động cơ của người nói dối là muốn anh đi càng xa để anh mất thời gian nên mới chỉ anh đi qua đường núi vì đường núi là con đường dài nhất để đến được tu viện. Người chân thật cũng hướng dẫn anh đi qua đường núi vì người đó thấy anh đang cưỡi lừa nên không thể nào cưỡi lừa qua sông, dù băng qua sông là con đường dễ nhất để đến được tu viện. Người chân thật nghĩ rằng ít nhất anh có thể đến được tu viện khi cưỡi lừa băng qua núi”. Đây là thí dụ để chúng ta thấy Tổ Tsongkhapa và Tổ Longchenpa có cách tiếp cận khác nhau về tánh không nhưng diễn giải sau cùng lại giống nhau.

Những lần sang Việt Nam, Thầy hướng dẫn đạo tràng thực hành chuyển di tâm thức (Phowa) hay thực hành nội hỏa bánh xe thần kỳ, những pháp tu này đều theo truyền thống của tổ Longchenpa. Tuy nhiên, các pháp thiền quán về Ruộng Phước hay cách diễn giải và thực hành tánh không thì Thầy lại nương tựa vào giáo lý theo truyền thống của Tổ Tsongkhapa. Cho nên, khi học pháp ở Dipkar, chúng ta gạn lọc được tinh túy của cả hai dòng truyền thừa, những pháp thực hành tốt nhất, cốt lõi nhất của cả hai dòng truyền thừa từ Tổ Longchenpa và Tổ Tsongkhapa. Chính vì vậy, Dipkar là điều duy nhất tồn tại chân thật.

Thầy nói rằng giáo lý của Tổ Longchenpa ở trong máu của Thầy, còn giáo lý của Tổ Tsongkhapa ở trong tim của Thầy. Bởi vì tổ tiên của Thầy theo dòng truyền thừa của Tổ Longchenpa và sinh ra Thầy nên giáo lý của Tổ Longchenpa đã đi vào máu của thầy. Bản thân Thầy lại là tái sinh nhiều đời của những vị thầy theo dòng truyền thừa của tổ Tsongkhapa nên giáo lý của Tổ Tsongkhapa đã khắc ghi vào tâm của Thầy.

Với Kim Cương Thừa, chúng ta sẽ học nghi quỹ của Bổn tôn Đại Uy Đức Kim Cang Yamantaka. Nghi quỹ này theo truyền thừa của Tổ Tsongkhapa. Các pháp thực hành Mật khác như Phowa, nội hỏa… được Thầy rút tỉa từ dòng truyền thừa của tổ Longchenpa. Thầy đã rút tỉa những pháp thực hành tinh túy nhất từ cả hai dòng truyền thừa của Tổ Tsongkhapa và Tổ Longchenpa. Dòng truyền thừa của Tổ Tsongkhapa mới có sau này, còn dòng truyền thừa của Tổ Longchenpa được xem là dòng cổ mật vì xuất phát từ thời xa xưa.

Điểm sau cùng là Tổ Tsongkhapa và Tổ Longchenpa đều không hiện hữu chân thật nhưng Dipkar vẫn hiện hữu chân thật (Rinpoche cười).