01-07-2026
Lamrim 2023
Download MP3

TUẦN 130 – NGÀY 01/07/2026

CHỦ ĐỀ: CÁCH ĐÀO LUYỆN TUỆ QUÁN ĐẶC BIỆT

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp. Bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề (3 lần).

Đức Phật đã giảng dạy nhiều pháp môn. Trong đó, Ngài đã thuyết giảng giai đoạn đạo lộ Đại thừa. Tiếp nối dòng truyền thừa có Đức Phật Văn Thù, đại sư Long Thọ theo hệ phái trí tuệ tri kiến thâm sâu và Đức Phật Di Lặc, đại sư Vô Trước theo hệ phái phương tiện hành vi quảng đại.

Ngài Nhiên Đăng Cát Tường Trí Atisha là đại học giả vĩ đại Ấn Độ đã được thỉnh mời sang Tây Tạng giảng dạy giáo pháp. Ngài đã đóng góp rất nhiều công trình nghiên cứu hệ thống giảng giải các bộ kinh, luận đơn giản, dễ hiểu, chỉ dẫn thực hành trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Tổ Atisha đã viết tác phẩm “Đèn Soi Nẻo Giác” chia hành giả theo ba căn cơ khác nhau gồm hạ sĩ, trung sĩ, thượng sĩ, hướng dẫn chi tiết, rõ ràng từng bước tu tập từ thấp đến cao để đạt được giác ngộ. Tiếp nối dòng truyền thừa có Tổ Je Tsongkhapa, là tác giả của tác phẩm “Ba Điểm Tinh Yếu Của Đạo Lộ”, hướng dẫn từng bước tu tập phạm vi nhỏ, phạm vi trung bình, phạm vi lớn.

Thầy giới thiệu tóm lược nội dung 4 học phần của sách Giải Thoát Trong Lòng Tay (xem mục lục quyển 1, trang 699 đến 702 và quyển 2, trang 426 đến 427).

Phạm vi lớn chủ yếu nói về cách phát tâm bồ đề, sáu ba la mật. Trong sáu ba la mật, thiền định ba la mật chủ yếu hướng dẫn thiền tịnh chỉ, còn trí tuệ ba la mật chủ yếu hướng dẫn cách đào luyện tuệ quán đặc biệt.

Các tôn giáo đều nói đến tâm từ bi. Đặc trưng của Phật giáo khác với tôn giáo là thuyết duyên sinh, thực hành thiền quán vô thường, cách thiền quán tâm từ bi, thiền quán vô ngã, quan kiến tánh không, hướng dẫn phương pháp tịnh hóa nguồn gốc phiền não, tham, sân, si. Nếu chúng ta đọc lướt qua chỉ một hay hai lần thì khó có thể hiểu nội dung. Cho nên, chúng ta cần phân tích, đọc đi đọc lại nhiều lần lý thuyết, thực hành giáo pháp thâm sâu thiêng liêng quý báu.

Tánh không là một chủ đề khá khó. Lần đầu tiên học tánh không, chúng ta khó có thể hiểu được một cách sâu sắc, rõ ràng nên cần phải huân tập thói quen nghe đi nghe lại nhiều lần và quan sát, soi xét kỹ lưỡng về nghĩa của tánh không. Đầu tiên, phân tích quan điểm vô thường, tư duy lập luận phân tích cách thực hữu có tồn tại hay không qua 4 điểm then chốt về tánh không. Như vậy, chúng ta sẽ có lợi lạc dần dần hiểu thêm một chút về tánh không.

Khi phân tích quan điểm vô thường, ta đưa ra lý luận về đối lập của vô thường là chấp thường. Nếu là chấp thường thì khi có nhiều đau khổ, bất như ý xảy đến, ta sẽ hiểu rõ về vô thường. Ví dụ, đồ vật từ mới thành cũ khiến ta cảm thấy đau khổ. Thức ăn sắp hết khiến ta cảm giác lo âu. Quá trình lão hóa tự nhiên xuất hiện tóc bạc, khuôn mặt có nếp nhăn kết hợp với nổi nhiều mụn khiến ta lo lắng đau khổ. Cảm giác đau buồn khi tụ họp gia đình nhưng thiếu đi thành viên. Chúng ta mong muốn mọi thứ không thay đổi nhưng bản chất tự nhiên mọi thứ đều thay đổi. Nếu có thể chấp nhận những điều thay đổi thì dù những phiền não có xảy đến, ta cũng không cảm thấy quá đau khổ.

I) Xác định tính phi hữu của bản ngã (còn gọi là nhân vô ngã)

I.1) Làm thế nào để nhập định như không gian: tức nhập định thiền tánh không.

4 điểm then chốt về tánh không:

1) Xác định đối tượng cần bác bỏ

Phân tích không có thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có. Xác định tính phi hữu của bản ngã thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có ngã. Xác định tính không chân thật thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có thành lập chân thật. Chúng ta cần hiểu là có đang chấp trì nắm giữ đối tượng hay không.

Nếu là nhân vô ngã thì thật sự cái gì cần bác bỏ? Nhân vô ngã không phải nói suông là không ngã, mà phải phân tích tìm kiếm cái tôi đang ở đâu, sau đó không thật sự tìm thấy có cái tôi trình hiện ở đâu cả. Khi không tìm thấy cái tôi hiện diện nơi nào, nếu hiểu là tương tự như tâm thức của ta trống rỗng không có tự tánh thì cái tôi là một hay là khác. Làm thế nào thân của tôi có được, thân của tôi có phải là tự tánh, tự bản chất thành lập chân thật hay không. Khi phân phân tích đi tìm kiếm thân của tôi và các bộ phận như tay của tôi, chân của tôi thì rất khó tìm thấy được cái tôi tồn tại chỗ nào. Cho nên, trước khi phân tích pháp vô ngã, đầu tiên phải phân tích và hiểu về nhân vô ngã, định nghĩa tánh không.

Trích Trung Quán Căn Bản Trí Tuệ của Ngài Long Thọ:

“Cái ngã không là đất, không là nước

Không là gió, không là không gian

Không là tâm thức, cũng không là tất cả

Ngoài yếu tố trên thì cái ngã tìm thấy nơi nào khác?”

Nếu phân tích tìm kiếm các uẩn sẽ không thấy có ở bên ngoài, thì cá thể tồn tại ở đâu? Nếu xét dựa trên phụ thuộc vào yếu tố tứ đại (đất, nước, gió, lửa), không gian, tâm thức tạo nên có cá thể, nhưng thực hành thiền phân tích tìm kiếm cái tôi sẽ không tìm thấy trình hiện ở nguyên tử siêu nhỏ của tứ đại. Tâm thức không là ngã và nếu không tìm thấy cái tôi trình hiện ở tâm thức thì không có cá thể tồn tại hay sao? Cá thể có tồn tại dựa trên có định danh gắn đặt chúng sinh sáu cõi. Tương tự nói rằng có thân thể của tôi nhưng tìm kiếm cái tôi có trình hiện ở tay, chân, máu, v.v thì không tìm thấy được cái tôi trình hiện ở bộ phận nào, ở những nguyên tử nào, ở hình dạng nào, ở nhóm tụ hội nào. Đó là tự tánh của tánh không và bắt đầu phân tích tư duy về nhân vô ngã và pháp vô ngã.

Thiền quán về nhân vô ngã: Sau một quá trình phân tách tất cả các bộ phận trên cơ thể thì sẽ không tìm thấy cái tôi mà ta cảm nhận là chắc thực ở đâu cả. Cái tôi chỉ là tâm thức của mình tự tạo trình hiện mê lầm ảo vọng, chứ trên thực tế không có. Ví dụ, ta nghĩ rằng có cái ngã hiển hiện nơi trung tâm khi ai đó đánh mình, nói xấu hãm hại mình, nhưng khi tìm kiếm, ta vẫn không tìm thấy cái tôi ở nơi nào.

II) Xác định tính phi hữu của các hiện tượng (pháp vô ngã)

1) Tính phi hữu của các pháp hữu vi

1.1) Tính phi hữu của sắc pháp

Đức Phật nói trong kinh điển rằng:

“Hãy áp dụng cùng một cách suy nghĩ ấy

Đối với mọi sự

Như thái độ bạn đã có đối với ngã”

(xem Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 2, trang 338)

Bạn phải sẵn sàng áp dụng cho các hiện tượng khác sự xác định mà bạn đã có được về nhân vô ngã - con người không hiện hữu biệt lập, không có tự tánh riêng.

Khi rà quét tìm kiếm định danh gắn đặt thân của tôi, tâm của tôi, cái tôi ở trung tâm hay chỉ tay vào các chi tiết trên cơ thể như tay, chân, v.v hay nói có các nguyên tử nhỏ vững chắc thì cũng sẽ không tìm thấy. Đây là chứng minh phân tích sắc uẩn tương tự như huyễn, không có chân thật, từ đó sẽ giúp hiểu về pháp vô ngã.

Trích dẫn Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển 2, trang 338: “Mọi hiện tượng (pháp) đều là những điển hình của duyên khởi, nghĩa là chỉ một nhãn hiệu được gán cho một vật, vật này là một hợp thể dùng làm căn bản để gán nhãn hiệu lên đấy”.

Ví dụ, đi tìm kiếm sắc uẩn, cái cột, cái bình, hay chỉ tay vào từng chi tiết bộ phận của cái bình để xác nhận đây là cái bình, hoặc tìm kiếm cái tâm của tôi có tồn tại ở trung tâm thì cũng sẽ không tìm thấy. Hay phân tích nói rằng từng bộ phận hợp thành cái bình nên có chức năng chứa nước, thì đúng là cái bình có chức năng chứa nước, có công năng nhưng không tìm thấy cái bình tồn tại ở từng bộ phận nào.

Nhà khoa học phương Tây đã làm nghiên cứu phân tích đi tìm cái tôi, tâm thức của tôi có tồn tại ở điểm giữa của bộ não, các dây thần kinh của bộ não hay không, thì cũng không tìm thấy ở bộ phận nào thuộc bộ não. Kết hợp nghiên cứu đo điện dẫn sóng não của vị tăng để tìm kiếm nằm ở vị trí nào trên bộ não của vị tăng đó thì cũng không tìm thấy. Cho nên, đi tìm kiếm sắc uẩn, tâm thức tồn tại ở chỗ nào thì rất khó tìm thấy nó hiện hữu ở đâu.

1.2) Tính phi hữu của tâm pháp

Khi tâm của ta có những trải nghiệm dễ chịu, khổ đau, hãy phân tích xem tại sao trạng thái tâm vui buồn này xuất hiện và nó có từ đâu hay nó có từ bộ não, hay từ cảm giác của thân. Ngày hôm qua có trải nghiệm cảm xúc như vậy thì hôm nay còn tồn tại cảm xúc như hôm qua hay không, nó tồn tại ở giây phút nào ở hiện tại. Ta ăn thức ăn ngon hôm qua thì hôm nay nhớ lại vị ngon của thức ăn đó và muốn tiếp tục ăn món ngon đó tương lai. Khi đi tìm kiếm, chỉ ra cảm giác tâm thức nhớ vị ngon của thức ăn đó hiển hiện ở đâu, ta sẽ thấy rằng rất khó chỉ ra được tâm thức tồn tại ở bộ não, tim, v.v…. Vì tư tưởng suy nghĩ thay đổi liên tục nên rất khó chỉ ra tâm thức tồn tại thực tế ở chỗ nào.

1.3) Tính phi hữu của bất tương ứng hành (những thứ thay đổi không phải sắc và tâm).

Ví dụ như thời gian quá khứ, hiện tại, tương lai, phương hướng đông, tây, nam, bắc. Khi ta đi tìm “cái tôi” trong thời gian sẽ không tìm thấy, cũng như đi tìm bản tánh trong tình huống trên cũng sẽ không tìm thấy.

Ví dụ, làm cách nào để xác định năm 2026 đã hoàn tất? Nếu nói năm 2026 bắt đầu từ tháng 1, 2 nhưng 2 tháng này đã trôi qua và tháng 8, 9, 10, 11, 12 thì tương lai chưa đến. Hiện tại là tháng 7 năm 2026 cũng không thể nói đã hoàn tất năm 2026. Như vậy, năm 2026 ở đâu, thời gian nào? Nếu nói tháng 12 sắp đến thì những tháng phía trên cũng đã trôi qua. Nếu nói tháng 1 thì những tháng sau chưa đến. Nhưng nếu cho rằng năm 2026 là khối đặc rắn, thì cũng sẽ không tìm thấy năm 2026 ở mốc thời gian nào trong từng giây, ở vị trí nào.

Một ví dụ khác, 1 giờ có 60 phút, nhưng ta chỉ tay vào từng phút, từng giây sẽ không thể tìm thấy được số giờ chính xác hiện hữu trong từng giây, từng sát na luôn thay đổi. Cho nên sẽ không tìm thấy thời gian, phương hướng, bất tương ứng hành, chỉ là sự gắn đặt của nhận thức không thành lập tự tánh. Cho nên, cái tôi không có tự tánh, các uẩn của tôi, sắc, tâm thức, bất tương ứng hành đều không có tự tánh, tính phi hữu của các pháp hữu vi, tính phi hữu của các pháp vô vi đều không có tự tánh. Tất cả sở tri thì do tâm thức của ta nhận thức tương tự là không.

Trích dẫn Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Tương tự thọ, tưởng, hành, thức, v.v.. đều là không.

Xá Lợi Phất, tất cả Pháp là không, không tướng, không sanh, không diệt, không nhớp, không sạch, không thêm, không bớt.

Xá Lợi Phất, cho nên trong không không có sắc, không thọ, không tưởng, không hành, không thức, không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không thân, không ý, không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp… Không có vô minh, không có hết vô minh, không có già chết, cho đến cũng không có hết già chết. Tương tự, không khổ, tập, diệt, đạo, không trí, không đắc, cũng không có không sở đắc…”

Ta dần dần huân tập thói quen phân tích, thiền quán thì sẽ tới thời điểm hiểu được ý nghĩa của tánh không.

Khi tâm không nhập định, làm thế nào để giữ thái độ xem vạn pháp như huyễn (xuất định)

Khi ta soi sương thấy hình ảnh giống như mình trong gương, thấy khuôn mặt giống như mình trong gương nhưng không phải là người trong thực tế. Tuy nhiên, ta soi gương trang điểm khuôn mặt, tô phấn màu trắng hồng, vẽ mắt thì vẫn hiện ra hình ảnh trang điểm chính xác giống như khuôn mặt của mình. Cho nên, khía cạnh khác nói rằng không có thành lập chân thật tự tánh. Ví dụ, sừng của con thỏ là không có, nhưng lại có tồn tại thuật ngữ "sừng của con thỏ".

“Sắc tức là không” nghĩa là lúc nhập định, ta hiểu sắc tức là không, tức là không có sự trình hiện tương tự của sắc. “Không tức là sắc” nghĩa là sau khi xuất định, ta thấy rằng tánh không cũng chính là sắc. Sắc lúc này không còn nghĩ đến một đặc tính cố hữu của sắc để xác định pháp đó là sắc mà thấy rằng bản tánh của sắc cũng chính là không. Nhưng bản chất của sắc cũng không là không, tức là bản chất của sắc là có. Nếu cho rằng tất cả các pháp như huyễn không có thật, thì hãy dùng lập luận vì nó là duyên khởi và phụ thuộc lẫn nhau để chứng minh tánh không. Ta không thể hiểu ngay được tánh không vì chủ đề này rất khó. Ta hãy huân tập thói quen học, phân tích, thiền quán thì sau này dần dần sẽ hiểu được chủ đề này.

Đức Phật có nói rằng:

“Thâm sâu, niết bàn, vô tác ý, quang minh, vô vi

Hạnh phúc tìm chân tâm như thấy cam lồ

Dù có giảng dạy, khó ai có được năng lực thấu hiểu

Như trú trong khu rừng đen mịt mù”

Khi Đức Phật thành tựu quả vị Phật, Ngài đã thấu hiểu rõ ràng ý nghĩa quan kiến tánh không, nhưng người khác khó có thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu của tánh không, vì vậy Ngài chưa có giảng pháp nhiều.

Chúng ta sẽ khó hiểu về chủ đề tánh không nên hãy cố gắng huân tập thói quen tiếp tục học, phân tích và tích lũy công đức. Đại sư Thánh Thiên từng nói rằng chủ đề tánh không rất khó hiểu, ta cần tích lũy nhiều công đức và tìm hiểu phân tích từng chữ từng ý nghĩa của tánh không sẽ giúp tịnh hóa ác nghiệp. Chúng ta nên tiếp tục học, tư duy thiền quán tánh không mỗi ngày để tích lũy tập khí thiện lành cho kiếp sau.

Hôm nay, chúng ta học chủ đề về tánh không, giúp ta tích lũy nhiều công đức. Cho nên, chúng ta hãy cùng nhau tụng kệ hồi hướng đến tất cả chúng sinh trên thế giới không còn chiến tranh, dịch bệnh được tiêu trừ, tịnh hóa những suy nghĩ tiêu cực, bệnh tật trên thân và tâm.