24-06-2026
Lamrim 2023
Download MP3

TUẦN 129 – NGÀY 24/06/2026

CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT (tiếp theo)

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Thầy nói rằng Thầy đang di chuyển trong ô tô để đi đến một buổi họp. Hôm nay Thầy sẽ tiếp tục hướng dẫn về tánh không. Chúng ta phải nỗ lực thực hành thiền quán nhiều hơn về tánh không.

Chúng ta đã học về bốn điểm trọng yếu trong quá trình thiền quán tánh không. Điểm quan trọng đầu tiên là phải nhìn thấy được cách cái ngã tồn tại và cách chúng ta bám chấp vào cái ngã như thế nào. Đây là điểm tối quan trọng chúng ta nhất định phải làm được.

Thầy đưa ra hai tình huống để hiểu cách chúng ta bám chấp vào ngã như thế nào. Tình huống thứ nhất, nếu ta đang khát nước và trong đầu nghĩ rằng “tôi phải uống nước” thì cái ngã đó không phải là cái ngã sai lầm cần bị phủ định. Tình huống thứ hai, khi có người nói rằng mình nói dối họ nhưng mình chưa từng lừa dối họ, lúc đó trong tâm mình có suy nghĩ rằng “tôi đâu có nói dối hay gạt anh”. “Cái tôi” trong suy nghĩ biện minh đó chính là cái ngã mà ta bám chấp rất chắc thật, tồn tại độc lập. Cái ngã đó chính là cái ngã sai lầm cần phải bị phủ định.

Điểm vô cùng quan trọng khi bắt đầu thực hành tánh không là phải nhận ra được cái ngã sai lầm tồn tại như thế nào và ta bám chấp vào cái ngã như thế theo cách nào. Ta phải phân biệt có hai cái ngã tồn tại: cái ngã đúng đắn và cái ngã sai lầm. Cái ngã thứ nhất không phải là đối tượng cần phải bác bỏ. Cái ngã thứ hai là cái ngã sai lầm, là cái ngã mà ta bám chấp vào nó, nghĩ rằng nó rất chắc thật, tồn tại độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ thứ gì khác. Đó là cái ngã sai lầm cần phải được bác bỏ. Và ngay thời điểm ta phủ định được cái ngã sai lầm đó và nhận ra rằng cái ngã sai lầm đó hoàn toàn không tồn tại, ngay thời điểm đó chúng ta đã trải nghiệm được vô ngã. Đó là điểm cần phải chú ý.

Một học viên đặt câu hỏi cho Thầy: “Khi bị vu oan, con phản ứng lại quá nhanh nên không kịp thiền quán những điểm như Thầy vừa nói”. Thầy trả lời rằng, nếu không nắm bắt được ngay khoảnh khắc bị vu oan để thiền quán về cái ngã sai lầm thì trong thời thiền sau đó, ta hồi tưởng lại khoảnh khắc đó và quan sát trong tâm phát sinh cảm xúc rất khó chịu. Cảm xúc bị vu oan hiện lên theo cách “tôi đâu có nói dối, tại sao người ta có thể vu oan là tôi nói dối?”. Lúc đó, cái ngã trỗi dậy rất mạnh mẽ và ta bám chấp vào cái ngã đó theo cách nó là cái ngã hoàn toàn độc lập, không phụ thuộc vào bất cứ thứ gì khác. Đó là cái ngã sai lầm chúng ta cần phải phát hiện.

Chúng ta khó thực hành tánh không là vì bị bối rối giữa hai cái ngã. Một cái ngã không sai lầm, không phải là đối tượng cần phải bác bỏ khi thực hành tánh không. Cái ngã thứ hai là cái ngã sai lầm, tức cái ngã hiện lên rất chắc thật, có thể nắm bắt được. Đặc biệt, ta bám chấp vào cái ngã đó theo cách nó không hề phụ thuộc vào bất cứ thứ gì khác. Cái ngã đó chính là cái ngã sai lầm, là đối tượng cần phải bị nhận ra và phủ định trong quá trình thực hành về tánh không.

Ta lầm lẫn giữa hai cái ngã: cái ngã đúng đắn, tức là cái ngã không phải là đối tượng bị bác bỏ; và cái ngã sai lầm, tức là đối tượng cần phải bị phủ định. Lầm lẫn giữa hai cái ngã này chính là một điểm rất khó cho người mới thực hành tánh không. Toàn bộ các bước thực hành về tánh không chỉ để giúp ta nhận ra cái ngã mà ta vẫn thường bám chấp vào, cái ngã mà ta cho là rất chắc thật, độc lập, có thể nắm bắt được nằm bên trong con người mình. Tánh không hướng dẫn ta thiền quán để nhận ra cái ngã đó không tồn tại. Ngay thời điểm ta nhận ra một cái ngã như thế không tồn tại, ta đã hiểu được vô ngã.

Bước thực hành thứ nhất là phải nhận ra cách ta nắm bắt cái ngã như thế nào. Bước thứ hai là phải đi tìm xem cái ngã đó tồn tại ở đâu trong con người mình bằng cách đặt câu hỏi “tôi là ai?”.

Thầy nói rằng chúng ta phải thiền quán theo cách tôi là không”, không là tôi. Khi nhận ra được cái ngã sai lầm đang hiện diện, ta phải thiền quán cái ngã sai lầm đó là không, tức là nó không có hiện diện. Cho nên, ta thiền quán tôi là không”, không là tôi.

Khi bàn về các điểm này, ta đã đi rất sâu vào giáo pháp. Trước đây, khi bắt đầu học Lamrim, Thầy hướng dẫn chúng ta cách luyện tâm để giảm bớt phiền não, để sống hạnh phúc, v.v... Nhưng khi đã thực hành tánh không, chúng ta đã đi rất sâu vào điểm cốt tủy của giáo pháp. Bây giờ, ta đang nói đến chỗ không có một cái ngã chân thật, tồn tại độc lập, nghĩa là ta đã vượt ra khỏi Lamrim căn bản. Bây giờ ta phải nghĩ rằng bởi vì không có cái ngã đó nên ta không chủ động truy cầu hạnh phúc nữa. Vì không có cái ngã thì đâu có đối tượng nào để truy cầu và hưởng thụ hạnh phúc.

Ở phần đầu của Lamrim, Thầy hướng dẫn cách giảm bớt phiền não, làm sao phát sinh nhiều suy nghĩ tích cực trong tâm, v.v... Điều đó là rất tốt. Nhưng khi đi sâu hơn vào phần cốt tủy nhất của giáo pháp, chúng ta mong muốn hiểu được tánh không để không những giảm bớt phiền não mà còn diệt trừ tận gốc phiền não và thậm chí làm cho phiền não không bao giờ quay trở lại. Và nếu như mục tiêu đặt ra là nhổ tận gốc phiền não ra khỏi tâm thì ta không nên có một mục tiêu thứ hai là mong cầu hạnh phúc, an lạc. Bởi vì khi ta có tâm mong cầu hạnh phúc và an lạc thì tâm mong cầu đó sẽ khiến ta phát sinh phiền não.

Từ trước đến nay Thầy vẫn khuyên các học trò sống mạnh mẽ và hạnh phúc. Nói đến sống hạnh phúc, có nhiều mức độ mưu cầu hạnh phúc trong cuộc sống. Vậy những người thực hành tánh không phải mưu cầu hạnh phúc theo cách nào? Đó là phải loại bỏ tâm mong cầu hạnh phúc. Người thực hành tánh không đạt trạng thái hạnh phúc bằng cách ngừng mong cầu hạnh phúc. Bởi vì hạnh phúc mong cầu đó cũng không tồn tại độc lập.

Tại sao chúng ta thấy khổ? Đó là vì trước đó ta đã từng trải nghiệm hạnh phúc. Nếu chưa từng trải qua niềm vui, hạnh phúc thì ta sẽ không bao giờ cảm nhận được nỗi khổ nào cả. Nếu cả đời này chưa bao giờ nếm qua vị ngọt, ta sẽ không biết vị chua là như thế nào. Nếu muốn cảm nhận vị chua chính là vị ngọt thì ta không bao giờ nên nếm thử vị ngọt. Đối với những người chưa từng nếm vị ngọt thì vị chua cũng giống như vị ngọt.

Cho nên, tầng mức sâu nhất của con đường dẫn đến trạng thái hạnh phúc là ta phải diệt trừ tâm mong cầu hạnh phúc. Bởi vì có tâm mong cầu hạnh phúc thì sẽ có rất nhiều nỗi khổ khác xuất hiện.

Thầy nhắc lại quá trình thiền quán về tánh không. Thứ nhất là phải nhìn vào bên trong để xem cái ngã hiện diện như thế nào, trình hiện trước tâm thức như thế nào và cách ta bám chấp vào cái ngã đó như thế nào. Thứ hai, khi đã nhận diện được cái ngã, ta phải phân tích cái ngã đó có phải là tâm của mình hay không, có phải là thân của mình hay không.

Hai câu hỏi cần được đặt ra trong quá trình thiền quán: Cái ngã có phải là thân hay không? Cái ngã có phải là tâm hay không? Nếu cho rằng cái ngã là thân, ta phải tìm được ít nhất một lập luận để chứng minh cái ngã thực sự là thân. Nếu cho rằng cái ngã không phải là thân, ta cũng phải tìm ra ít nhất một lập luận để chứng minh cái ngã không phải là thân. Đó chính là quá trình thiền quán về tánh không.

Đây là một dạng thiền quán hoặc thiền phân tích. Trong quá trình thiền phân tích, ta đưa ra vô vàn lập luận để thiết lập một điểm gọi là đối tượng của thiền quán. Ví dụ, nếu cho rằng ngã là tâm, ta cần phải tìm ít nhất một lập luận để chứng minh ngã là tâm. Nếu nói rằng ngã không phải là tâm, ta cũng phải tìm được ít nhất một lập luận để chứng minh điều đó. Đó là cách chúng ta thiền quán về tánh không. Quá trình thiền quán là đưa ra rất nhiều lập luận khác nhau để giải đáp cho hai câu hỏi: Ngã có phải là thân hay không? Ngã có phải là tâm hay không?

Thầy đưa ra ví dụ cách lập luận về đề mục ngã không phải là tâm”. Cái ngã có lúc cảm thấy đói, có lúc cảm thấy khát, nhưng tâm không bao giờ thấy đói, thấy khát. Cho nên, ngã không phải là tâm. Đối với đề mục “ngã không phải là thân, ta lập luận như thế này: lúc chết đi, thân sẽ bị hỏa táng nhưng cái ngã sẽ còn đi tái sinh. Nếu ngã là thân thì ngã cũng sẽ bị hỏa táng theo thân. Cho nên, ngã không phải là thân.

Thầy đưa ra thêm một lập luận khác: Khi bị người khác nhục mạ, tâm rất đau khổ nhưng thân không bị tổn hại bởi lời nhục mạ đó. Điều này cho thấy ngã không phải là tâm.

Tuần này, ta hãy triển khai thiền quán xoay quanh hai câu hỏi: Ngã có phải là thân hay không? Ngã có phải là tâm hay không? Thiền quán như thế sẽ giúp tâm trí sắc bén hơn và ngày càng đến gần hơn với thực tại đúng với bản chất của nó.

Trong tuần này, ta hãy thiền quán chú trọng vào hai câu hỏi. Câu hỏi thứ nhất: Ngã có phải là thân hay không? Nếu cho rằng ngã là thân, ta phải có một lập luận thuyết phục chứng minh ngã là thân. Nếu cho rằng ngã không phải là thân, ta cũng phải tìm ra được một lập luận thuyết phục ngã không phải là thân. Câu hỏi thứ hai: Ngã có phải là tâm hay không? Nếu cho rằng ngã là tâm, ta phải chứng minh bằng ít nhất một lập luận. Nếu cho rằng ngã không phải là tâm, ta cũng phải tìm ra ít nhất một lập luận để chứng minh.

Đó là các bước thiền quán quan trọng nhất cần phải thực hành. Quá trình này gọi là quá trình thiền quán hoặc thiền phân tích. Trong suốt quá trình đó, ta đặt ra nhiều câu hỏi về cái ngã của mình. Ta không thiền quán về một câu hỏi ngẫu nhiên nào đó mà đặc biệt thiền quán về hai câu hỏi: Ngã có phải là thân hay không? Ngã có phải là tâm hay không?

Khi thực hành thiền quán như vậy, có một điểm quan trọng cần lưu ý: Đừng hỏi AI, ChatGPT hoặc Google để tìm đáp án cho hai câu hỏi này. Có một nghiên cứu khá hay cho thấy, những người lạm dụng ChatGPT hoặc AI bị mất khả năng tư duy phân tích, phản biện. Cho nên, chúng ta đừng nên bảo AI suy nghĩ thay mình. Đặc biệt khi thiền quán về tánh không, ta không nên dùng AI mà nên vận dụng trí óc để thiền quán.

Tuần này chúng ta hãy thực hành thiền quán và nỗ lực đưa ra tất cả các lập luận để chứng minh cho đề mục thiền của mình: ngã là tâm, ngã không phải là tâm hoặc ngã là thân và ngã không phải là thân. Ta nhất định phải tìm được lập luận để chứng minh đề mục đưa ra.

Khi thông qua lập luận, ta nhận ra rằng ngã không phải là thân, ngã cũng không phải là tâm thì sẽ dễ dàng hơn để hiểu rằng ngã chỉ là sự gán đặt trên tổ hợp thân và tâm. Ngay thời điểm có niềm tin xác quyết rằng cái ngã đó chỉ là do tâm tạo ra nhãn rồi dán lên hợp thể của thân và tâm thì ta đã hiểu được vô ngã. Đó là các bước cần phải thiền.

Thầy đặt câu hỏi: Khi chứng được vô ngã rồi, ta cần phải làm gì? Khi chứng được tánh không, có một tin tốt và một tin xấu, chúng ta muốn nghe tin tốt trước hay là tin xấu trước? Khi một người thật sự trải nghiệm được tánh không thì người đó không còn tận hưởng được thức ăn ngon, trà ngon hoặc bia ngon, vì đối với họ, thức ăn, trà hay bia đều không tồn tại độc lập, bản chất của chúng đều là không. Đó là tin xấu. Tuy nhiên, tin tốt là cho dù cuộc sống có xảy ra biến cố như thế nào, người đã chứng được vô ngã sẽ không quá phiền muộn, vì họ đã thấy được bản chất của tất cả các pháp đều là không.

Muốn có được tin tốt, cái giá phải trả là phải chịu đựng tin xấu. Ta muốn thử tin xấu thì cũng phải chấp nhận cả tin tốt. Tin tốt và tin xấu như hai mặt của một đồng xu. Ví dụ, ta đang nằm mơ và ý thức rõ ràng rằng mình đang nằm mơ. Trong giấc mơ đó, nếu có người hỏi mình có muốn uống trà hay không, ta sẽ trả lời như thế nào. Nếu ta trả lời là có thì trong lúc uống trà, bởi vì ta biết mình đang mơ, nên một phần của tâm ý thức rõ ràng rằng tách trà đó hoàn toàn không có thật.

Đó là cách mà Đức Phật tri nhận thế giới. Các đệ tử hỏi Đức Phật rất nhiều câu hỏi và Ngài đưa ra câu trả lời phù hợp với cách suy nghĩ của người hỏi. Vẫn tri nhận thế giới nhưng một phần của tâm thấy được bản chất không của các sự vật, hiện tượng, đó chính là cách Đức Phật tri nhận thế giới này. Đây là một điểm quan trọng chúng ta cần phải hiểu.

Thầy đã đến nơi và Thầy đang đi bộ đến phòng họp. Thầy vừa đi bộ, vừa giảng pháp cho chúng ta. Trải nghiệm này khá là thú vị. Điều hay là bây giờ nếu thời tiết lạnh, Thầy có thể dùng y áo để phủ lên cánh tay của mình. Thầy rất thích bộ y của mình. Bởi vì khi trời nóng, Thầy mở y ngoài ra để lộ cánh tay phải cho mát. Còn khi trời trở lạnh, Thầy phủ y lên để che cánh tay lại. Dù trời mát hay trời lạnh thì Thầy đều có cách làm. Nhưng người nào đã hiểu được tánh không chắc không còn cảm thấy điều này là thú vị nữa. Thầy dành ít phút còn lại để chúng ta thiền quán về các bước Thầy vừa hướng dẫn xung quanh hai đề mục: Ngã có phải là tâm hay không? Ngã có phải là thân hay không?