Lamrim 2023
TUẦN 122 – NGÀY 22/04/2026
CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT (tiếp theo)
(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)
Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp, bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề (3 lần). Chúng ta đang thực hành pháp Đại thừa, không những nghĩ đến lợi ích của bản thân, mà còn nghĩ đến lợi lạc của tất cả chúng sanh. Với động cơ đúng đắn và kết thúc hồi hướng thì việc học pháp mới trọn vẹn, viên mãn.
Cách đào luyện tuệ quán đặc biệt
Đại sư Tịch Thiên là tác giả bộ luận Nhập Bồ Tát Hạnh gồm 10 phẩm. Trong đó, nội dung của phẩm 9 là Trí Tuệ, nói về quan kiến tánh không. Bắt đầu phẩm Trí Tuệ là “Đức Thích Ca Mâu Ni thuyết tất cả pháp hành này đều hướng về mục đích trí tuệ”.
Chúng ta có thể đã học qua một số nội dung như nhẫn nhục, thiền định, trì giới, tinh tấn, sáu ba la mật… Đức Phật thuyết tất cả pháp đều hướng về mục đích phát sinh trí tuệ chứng vô ngã. Cho nên, phẩm Trí Tuệ rất quan trọng.
Tổ Tsongkhapa nói rằng: “Nếu không chứng bản tánh trí tuệ tánh không, mặc dù có thực hành tâm từ bỏ, tâm bồ đề, cũng không đủ năng lực chặt đứt gốc rễ luân hồi. Vì vậy, nỗ lực tìm hiểu thuyết duyên sinh”. Trí tuệ là phần quan trọng trong phần trí tuệ chứng tánh không.
Nếu ta đã học qua các nội dung như tâm bồ đề, mật chú, tâm bi, bố thí, trì giới, nhẫn nhục thì cần phải học tánh không, vì cách hiểu, tư duy, thực hành của tánh không sẽ khác với các chủ đề đã học.
Thực hành thiền một phút.
Bước 1: Trước khi thiền phân tích tánh không, ta cần hiểu nếu có đối tượng cho là thật thì cần thiền tư duy các hành là vô thường, bản tánh luôn thay đổi, sau đó phân tích chúng ta là một cá thể độc lập không có tự tánh. Tiếp đến là không có đối tượng bên ngoài kết tập ở tâm và tâm không có vọng tưởng đến đối tượng bên ngoài.
Bước 2: Sau khi thiền phân tích cá thể không có tự tánh, ví dụ như phân tích trình hiện “tự tánh vô thường” như lúc là trẻ con, sau đó đi học, tốt nghiệp, tới lúc trưởng thành gặp bạn đời và lập gia đình, có con cái. Các mốc thời gian đều thay đổi nhưng khi ta nhìn bức ảnh lúc trẻ, liền chỉ tay vào bức ảnh xác nhận “đó là tôi lúc nhỏ”, hay có ai nói xấu thì liền phản ứng “người ấy nói xấu tôi”, “người ấy đã đối xử với tôi như vậy”, “bàn tay của tôi”, “cảm xúc của tôi”, cá thể chỉ là gán đặt trong năm uẩn. Chúng ta tiếp tục thiền một phút xem cái tôi đang ở đâu ở các tình huống trên. Ta sẽ không tìm thấy được cái tôi nằm ở đâu trong các tình huống trên.
Bước 3: Khi tư duy phân tích về cái tôi trong năm uẩn, “sắc” được hiểu là thân của tôi, ví dụ như “thân thể của tôi đang bệnh”. “Thọ” được hiểu là cảm xúc vui, buồn. “Thức” được hiểu là “tôi suy nghĩ điều này, điều kia”. Ta phân tích cá thể không có tự tánh, các uẩn không có tự tánh, pháp vô ngã. Trong pháp vô ngã, lúc phân tích đi tìm sắc uẩn thì không có tự tánh. Tiếp đến, ta đi tìm “cảm thọ” cũng không có tự tánh. Thiền phân tích một phút.
II) Xác định tính phi hữu của các hiện tượng (pháp vô ngã)
1) Tính phi hữu của các pháp hữu vi
1.1) Tính phi hữu của sắc pháp
1.2) Tính phi hữu của tâm pháp
1.3) Tính phi hữu của bất tương ứng hành (những thứ thay đổi không phải sắc và tâm).
Ví dụ như thời gian, phương hướng, tập khí, vì tập khí của nghiệp kiếp này sẽ tái sinh vào kiếp sau, tuổi và tháng, năm này của tôi, tuổi này là lúc tôi còn nhỏ. Khi ta đi tìm cái tôi trong thời gian sẽ không tìm thấy, cũng như đi tìm bản tánh trong tình huống trên cũng sẽ không tìm thấy.
Ta đi phân tích chỉ tay đi tìm cái tôi có hiện hữu chỗ nào tại năm, tháng, khối đặc rắn thì sẽ không tìm thấy được cái tôi ở chi tiết thời gian nào. Ví dụ, làm cách nào để xác định năm 2026 đã hoàn tất? Nếu nói năm 2026 bắt đầu từ tháng 1, 2 nhưng 2 tháng này đã trôi qua và tháng 8, 9, 10, 11, 12 thì tương lai chưa đến. Hiện tại là tháng 4/2026 cũng không thể nói đã hoàn tất năm 2026. Như vậy, năm 2026 ở đâu, thời gian nào? Nếu nói tháng 12 sắp đến thì những tháng phía trên cũng đã trôi qua. Nếu nói tháng 1 thì những tháng sau chưa đến. Nhưng nếu cho rằng năm 2026 là khối đặc rắn thì cũng sẽ không tìm thấy năm 2026 ở mốc thời gian nào trong từng giây, ở vị trí nào.
Ví dụ như một tiếng có 60 phút, khi hỏi “hiện tại là mấy giờ?”, ta dựa vào múi giờ của quốc gia như Việt Nam là 9 giờ tối, ở Ấn Độ là 7 giờ 30 phút tối, còn ở Mỹ, Canada là giờ buổi sáng. Ta xác định thời gian chính xác dựa trên sự gắn đặt múi giờ của quốc gia và một giờ có 60 phút, nhưng khi ta chỉ tay vào từng phút, từng giây sẽ không thể tìm thấy được số giờ chính xác hiện hữu trong từng giây, từng sát na luôn thay đổi. Ta sẽ không tìm thấy thời gian, phương hướng, bất tương ứng hành, chỉ là sự gắn đặt của nhận thức không thành lập tự tánh. Cho nên, cái tôi không có tự tánh, các uẩn của tôi, sắc, tâm thức, bất tương ứng hành đều không có tự tánh, tính phi hữu của các pháp hữu vi, tính phi hữu của các pháp vô vi đều không có tự tánh.
2) Tính phi hữu của các pháp vô vi
Nếu ta nói pháp vô vi dựa trên sự gắn đặt hữu vi hay có thời gian hiện hữu gắn đặt tự tánh. Ví dụ, không gian là pháp vô vi, khoảng không trống rỗng là pháp vô vi. Nếu đi tìm không gian hiện hữu ở không gian phía Đông, phía Tây thì chỉ là vọng tưởng, vì nó không có gắn đặt dựa trên những điều đó, ta không thể tìm thấy. Cho nên, pháp vô vi là không có tự tánh. Tục đế là không thành lập tự tánh, chân đế là tánh không cũng không có tự tánh. “Không có tự tánh” cũng chính là không có tự tánh.
Đức Phật thuyết trong kinh văn: “Tất cả các pháp là tánh không. Tánh không cũng chính là tánh không”. Cho nên, thấy, nghe, xúc chạm, niệm tư tưởng hiển hiện, bất cứ pháp nào cũng chính là không có tự tánh chân thật. Bởi vì tánh không không có tự tánh.
Trích dẫn Bát Nhã Tâm Kinh: “Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Tương tự thọ, tưởng, hành, thức v.v.. đều là không”. Không tức là thọ, tất cả các pháp đều là không, không tức là các pháp, các pháp chẳng khác không. Chúng ta hãy thiền phân tích như trên.
3) Cách triển khai tuệ quán đặc biệt
Chúng ta đang học đến phần cuối trong Lamrim, hai phần cuối trong sáu ba la mật là thiền định ba la mật và trí tuệ ba la mật.
Thiền có hai loại là thiền chỉ và thiền quán. Tịnh chỉ là khả năng thiền tập trung vào đối tượng trong một khoảng thời gian mà không bị phân tâm, tán loạn. Thắng quán là khả năng thiền phân tích. Thiền phân tích chủ yếu là thiền phân tích tánh không. Trong lúc thiền phân tích tánh không, tâm thường sẽ bị nhiễu loạn, vì vậy sẽ không thành tựu được thiền phân tích tánh không.
Cho nên, trước khi thiền phân tích tánh không, ta cần phải thành tựu thiền tịnh chỉ. Thiền tịnh chỉ giúp ta đạt được khả năng tập trung vào đối tượng trong một khoảng thời gian mà không bị phân tâm, tán loạn. Từ đó, giúp ta đạt được thành tựu khi thực hành thiền phân tích thắng quán, giúp ta phân tích nhiều lập luận sắc sảo, rõ ràng, chi tiết. Nếu không có phân tích đưa ra nhiều lập luận, lý do sắc bén chứng minh “không có chân thật” thì sẽ không hiểu thắng quán. Đầu tiên, ta cần phải rèn luyện phân tích đưa ra nhiều lập luận, giải thích ý nghĩa, dẫn chứng lập luận “không có chấp ngã, không có chấp thật”, đó là thiền phân tích trí tuệ chứng tánh không.
Khi thành tựu giai đoạn tịnh chỉ thực thụ sẽ có trải nghiệm thân tâm khinh an. Từ đó, ta tiếp tục thực hành phân tích thiền thắng quán. Có nhiều loại thành tựu thắng quán, như phân tích thắng quán vô thường, thắng quán vô ngã, thắng quán sắc thân quang minh. Hiện tại, lớp chúng ta đang học phân tích thắng quán theo Lamrim, nếu có khả năng thành tựu phân tích thắng quán tánh không thì sẽ có khả năng thành tựu vô dư.
Chúng ta đã học gần xong nội dung đạo lộ phổ thông, bài học phía trước như phát khởi tâm bồ đề, sáu ba la mật, hai ba la mật cuối là thiền tịnh chỉ và thắng quán. Sau này, chúng ta sẽ học tiếp tóm lược đạo lộ đặc biệt về mật chú.
Tuy hôm nay chúng ta có một buổi học ngắn nhưng học về pháp tinh yếu tánh không sẽ tích lũy rất nhiều công đức. Cho nên, chúng ta hãy tụng kệ hồi hướng đến tất cả chúng sinh trên thế giới thoát khỏi khổ đau, an vui, hạnh phúc.