12-07-2026
Lamrim 2024
Download MP3

TUẦN 84 – NGÀY 12/07/2026

CHỦ ĐỀ: THIỀN TỊNH CHỈ

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

Hôm nay chúng ta sẽ học về thiền tịnh chỉ (Samatha). Trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay có đề cập đến một số điểm quan trọng trong thiền tịnh chỉ. Đó là 5 cạm bẫy, tức 5 chướng ngại thường gặp trong thiền tịnh chỉ.

Cách thực thụ để đạt tâm tịnh chỉ (xem trang 271, quyển 2, sách Giải Thoát Trong Lòng Tay)

Thiền tịnh chỉ là loại thiền ở mức độ cao nhất. Nếu muốn đạt được mức độ cao trong thiền, ta nhất định phải thực hành thiền tịnh chỉ. Bởi vì thiền tịnh chỉ là phương pháp thiền có thể đưa tâm thức mình lên đến những mức độ rất cao trong thiền định. Phần này hướng dẫn làm thế nào để thành tựu thiền tịnh chỉ.

5 cạm bẫy trong thiền tịnh chỉ

1/ Cạm bẫy thứ nhất: Lười biếng

Lười biếng không chỉ là chướng ngại đối với mọi pháp hành mà còn đối với bất cứ công việc nào của mình. Khi ta cứ nghĩ rằng chờ đến ngày mai hãy làm thì đó là lười biếng.

Để loại bỏ cạm bẫy lười biếng này, ta cần phải làm gì? Sự lười biếng này chủ yếu là vì ta bị phân tâm bởi các công việc khác. Cho nên, ta cần phải ý thức rõ về thời gian của mình và phải tự nhắc nhở bản thân về những điều cần phải làm.

2/ Cạm bẫy thứ hai: Quên chỉ giáo (trang 275, quyển 2)

Quên chỉ giáo nghĩa là ta quên mất cách thực hành thiền như thế nào, không biết phải làm gì trong thời thiền.

Cho nên, chướng ngại đầu tiên là lười biếng và chướng ngại thứ hai là quên chỉ giáo.

3/ Cạm bẫy thứ ba: Trạo cử và hôn trầm (trang 279, quyển 2)

Cạm bẫy thứ ba cũng là cạm bẫy tồi tệ nhất. Đó là trạo cử và hôn trầm. Sách Giải Thoát Trong Lòng Tay hướng dẫn rất rõ về trạo cử và hôn trầm và làm sao loại bỏ trạo cử và hôn trầm trong thiền định. Trước thời của Lama Tsongkhapa, chưa có vị thiền giả nào mô tả và giải thích rõ ràng như thế về trạo cử và hôn trầm.

Ta cần hiểu như thế nào là trạo cử và hôn trầm. Trạo cử có thể hiểu đơn giản là sự phân tâm. Khi ta đang thiền về một đối tượng nào đó, bỗng dưng ta không còn nghĩ về đối tượng thiền nữa mà bị lạc sang một đối tượng hoàn toàn khác. Khi đó ta đang bị phân tâm.

Hôn trầm có nghĩa là ta đang nghĩ về đối tượng thiền, nhưng đối tượng đó hiện lên không rõ ràng, thiếu chi tiết thì khi đó ta đang bị hôn trầm.

Có hai loại hôn trầm là hôn trầm thô và hôn trầm tế.

Trích dẫn sách Giải Thoát Trong Lòng tay, trang 279 - 280, quyển 2: "Có hai loại hôn trầm: tế và thô. Khi bạn nhớ lại đề mục quán, hình ảnh có thể vững vàng nhưng không rõ. Đấy là hôn trầm thô. Hôn trầm tế là như sau: bạn chưa bị mất những đường nét đã nhớ được về đối tượng quán, bạn lại còn có sự vững vàng và rõ ràng của hình ảnh, nhưng năng lực của sự duy trì nơi bạn đã yếu và vẻ rõ rệt của hình ảnh không mãnh liệt. Sự hôn trầm tế nhị là chướng ngại chính cho thiền định".

Đây là đoạn cực kỳ quan trọng, chúng ta hãy học thuộc lòng. Nếu không nhận diện rõ ràng các chướng ngại này, chúng ta sẽ không thể nào tiến bộ trong thiền định.

Hôn trầm có hai loại là thô và vi tế. Hôn trầm thô có nghĩa là đối tượng thiền định hiện ra bị mờ, không rõ ràng. Hôn trầm vi tế có nghĩa là đối tượng thiền hiện ra rất rõ ràng nhưng khả năng tâm thức bám giữ đối tượng không còn mãnh liệt, nghĩa là năng lực giữ vững hình ảnh dần suy yếu. Đó là hôn trầm vi tế.

Chúng ta có hiểu phần này không? Nếu hiểu thì chúng ta thực sự rất thông minh. Nhiều khi chúng ta sẽ phá kỷ lục của Ngài Ensapa, sẽ giác ngộ sớm hơn (Rinpoche cười).

Ta hãy thử hỏi những người đã thiền 9 năm, 10 năm xem liệu họ có thể nói ra những chướng ngại trong thiền như hôn trầm thô và hôn trầm vi tế khác nhau như thế nào. Thực ra không phải ai cũng có thể nhận diện và giải thích rõ ràng về các chướng ngại trong thiền định.

Thầy lấy ví dụ về mức độ rõ nét của đối tượng thiền. Chúng ta có sợ rắn không, ví dụ như rắn hổ mang? Bây giờ ta hãy nghĩ như thế này: Khi ta đang ngồi thiền, bỗng dưng có con rắn hổ mang bò lên đùi mình. Vì quá sợ hãi, ta giật bắn cả người lên. Lúc đó, cường độ rõ ràng của hình ảnh rất cao. Còn nếu ta không quá sợ rắn thì ta chỉ biết là có con rắn đang bò lên đùi mình thôi, ta sẽ phớt lờ nó và sẽ không có giật bắn người vì sợ. Khi đó, sự rõ nét của hình ảnh vẫn có, nhưng cường độ rõ ràng lại không lớn.

Khi ta bám chấp vào một đối tượng nào đó thì hình ảnh và chi tiết của đối tượng đó hiện lên rất rõ ràng trước tâm thức của mình. Do ta bám chấp vào đối tượng nên ta ghi nhớ mọi chi tiết về đối tượng đó nên mức độ rõ nét của hình ảnh rất cao.

Để đạt đến mức độ đúng mực của thiền định thì đối tượng hiện lên trước tâm thức của mình phải rõ ràng và cường độ rõ ràng cũng phải rất cao.

Thầy nhắc lại chúng ta hãy học thuộc lòng đoạn ở trang 279 - 280, quyển 2: "Có hai loại hôn trầm: tế và thô. Khi bạn nhớ lại đề mục quán, hình ảnh có thể vững vàng nhưng không rõ. Đấy là hôn trầm thô. Hôn trầm tế là như sau: bạn chưa bị mất những đường nét đã nhớ được về đối tượng quán, bạn lại còn có sự vững vàng và rõ ràng của hình ảnh, nhưng năng lực của sự duy trì nơi bạn đã yếu và vẻ rõ rệt của hình ảnh không mãnh liệt. Sự hôn trầm tế nhị là chướng ngại chính cho thiền định”.

Đây là những chỉ giáo vô cùng quan trọng về thực hành thiền. Có những câu chuyện ghi chép lại rằng trước thời Lama Tsongkhapa, có rất nhiều vị thiền sư đã cố gắng thực hành thiền nhưng họ vẫn không thành tựu được thiền tịnh chỉ. Đó là bởi vì họ vẫn còn bối rối và chưa hiểu đúng về các chướng ngại trong thiền như hôn trầm. Họ cứ nghĩ rằng họ đã thực hành rất tốt nhưng trên thực tế, họ đã đi sai hướng.

Đối với Ngài Ensapa, Thầy thấy rằng Ngài đã có được những duyên lành khi tiếp cận giáo pháp. Thứ nhất, Ngài Ensapa đã nhận được những chỉ dẫn chuẩn mực, rõ ràng về cách thành tựu thiền tịnh chỉ. Thêm nữa, Ngài có được sự gia trì từ pháp thực hành Kim Cang thừa. Hai điều này đã giúp Ngài Ensapa đạt giác ngộ rất nhanh chóng. Ngài Ensapa rất thông minh. Vì quá thông minh, Ngài cứ tận hưởng cuộc sống của mình, nên không có giảng dạy nhiều (Rinpoche cười). Trong khi đó, Ngài Khedrup Je là vị đạo sư rất uyên bác, lại tích cực chia sẻ giáo pháp nên có rất nhiều đệ tử nhưng Ngài lại không có được sự giác ngộ nhiều như Ngài Ensapa.

Đó là lý do Thầy khuyên chúng ta hãy học thuộc lòng đoạn ở trang 279 - 280, quyển 2 vì đây là những chỉ giáo giúp ta nhận diện hôn trầm thô và hôn trầm vi tế, vốn là chướng ngại chính yếu trong thiền định.

Nếu ta có được cơ hội đọc được những bản luận do Ngài Khedrup Je soạn tác, ta sẽ thấy rằng khi Ngài tranh luận, phản bác tư tưởng của người khác, thỉnh thoảng Ngài dùng một số từ ngữ khá gay gắt. Ngài Khedrup Je thích tranh luận, chia sẻ giáo pháp với người khác nên có nhiều đệ tử và đã soạn tác rất nhiều văn bản. Trong khi đó, Ngài Ensapa không thích tranh luận với người khác, không soạn tác mà chỉ tận hưởng cuộc sống thôi (Rinpoche cười).

Tuy nhiên, ta phải nhìn nhận một khía cạnh tích cực là nếu Ngài Khedrup Je không có những tranh luận như vậy thì tư tưởng giáo pháp của Tổ Tsongkhapa sẽ không phát triển mạnh mẽ được như thế. Hễ ai phản bác tư tưởng của Tổ Tsongkhapa thì Ngài Khedrup Je (Ngài Khedrup Je là đệ tử của Lama Tsongkhapa) sẽ dùng lập luận để chứng minh phản bác của người đó là sai lầm. Chính nhờ kiến thức uyên bác của mình, Ngài Khedrup Je đã thuyết phục được những học giả phản bác tư tưởng của Lama Tsongkhapa qua các lập luận rất logic của mình. Qua những văn bản soạn tác và các tranh luận của mình, Ngài Khedrup Je đã đóng góp rất lớn vào việc phát triển và bảo tồn tư tưởng của Tổ Tsongkhapa qua nhiều đời.

Ta rất dễ thuyết phục một người ngu ngốc tin vào những gì mình nói, nhưng rất khó thuyết phục các học giả uyên bác. Ngài Khedrup Je đã đưa ra các lập luận sắc sảo chứng minh quan điểm của những vị học giả thời đó là sai lầm. Và Ngài đã đánh bại tất cả quan điểm của họ và cuối cùng họ đã chấp nhận tư tưởng giáo pháp của Tổ Tsongkhapa là đúng. Vừa rồi Thầy đã chia sẻ đôi chút về lịch sử về các vị học giả đời trước.

Sách Giải Thoát Trong Lòng Tay có hướng dẫn về hôn trầm thô và vi tế nên chúng ta hãy học thuộc lòng đoạn này ở trang 279 - 280.

Nói đến trạo cử, có hai loại trạo cử: trạo cử thô và trạo cử vi tế. Khi đang thiền về hình ảnh của Đức Phật trước tâm mình, ta bị mất đối tượng thiền mà nghĩ sang đối tượng khác. Đó là trạo cử thô. Trạo cử vi tế là khi ta đang ngồi thiền, một phần tâm của mình vẫn đang tập trung vào đối tượng thiền nhưng một phần tâm còn lại đang nghĩ đến những điều khác như thức ăn, chẳng hạn.

Đây là những điều rất quan trọng chúng ta cần phải hiểu rõ để có thể tiến triển trong thực hành thiền định. Nếu không hiểu được những điều này, ta sẽ khó có thể tiến bộ trong thiền định. Thiền thâm sâu không có nghĩa là thiền suốt 5 năm, 6 năm, mà phải thiền một cách khôn ngoan thì mới giúp ta đạt được kết quả nhanh chóng.

Một nhóm nhà khoa học người Nga từng hỏi Thầy có tham gia khóa nhập thất 3 năm tại tu viện Gyuto hay không. Thầy nói rằng Thầy muốn đi theo cách thông minh hơn, chứ không phải cực khổ, vất vả trong 3 năm (Rinpoche cười).

Thầy nói rằng cách mô tả chướng ngại và cách khắc phục chướng ngại được hướng dẫn trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay hoàn toàn dựa theo tư tưởng của Lama Tsongkhapa. Trước thời của Lama Tsongkhapa, chưa có vị thiền giả nào có thể mô tả và hướng dẫn rõ ràng, chi tiết như thế về các chướng ngại trong thiền định.