Lamrim 2025
TUẦN 39 – NGÀY 18/04/2026
CHỦ ĐỀ: SÁU PHIỀN NÃO CĂN BẢN
(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)
NGÀY THỨ 13
Đối với phần cuối của ngày thứ 13 (từ trang 682 trở đi, quyển 1 sách Giải Thoát Trong Lòng Tay), Thầy nói rằng chúng ta hãy tham khảo trong sách. Điểm quan trọng nhất ở phần này là thanh lọc bản thân bằng bốn năng lực (trang 692, quyển 1).
Giáo lý đặc biệt: thanh lọc bản thân nhờ bốn năng lực
Trong tâm thức của chúng ta có chứa đựng dấu ấn của nhiều nghiệp xấu đã làm. Vậy làm sao để thanh lọc và làm sạch các dấu ấn đó trong tâm thức? Ở đây hướng dẫn chúng ta thanh lọc ác nghiệp nhờ bốn năng lực:
1/ Năng lực thứ nhất: năng lực từ bỏ
2/ Năng lực thứ hai: năng lực áp dụng mọi thuốc chữa
3/ Năng lực thứ ba: năng lực chừa bỏ tà hạnh
4/ Năng lực thứ tư: năng lực căn bản
Nếu biết rằng mình đã từng làm những việc chưa đúng đắn, ta có thể sử dụng bốn năng lực này để thanh lọc vết tích của những nghiệp xấu vẫn còn trong tâm thức của mình.
Chúng ta hãy áp dụng thực hành thanh lọc ác nghiệp theo bốn bước sau:
Bước 1: Khi nghĩ đến những việc sai trái từng làm, bây giờ ta phải hối hận về những việc làm đó. Đây là năng lực từ bỏ.
Bước 2: Ta cần phải sám hối những lỗi lầm đã phạm trước những đấng có phẩm hạnh tốt, đó là Đức Phật và Ruộng Phước. Cho nên, ở bước này, ta hãy nghĩ đến Đức Phật và Ruộng Phước đang ở phía trước mặt của mình. Đây là năng lực căn bản.
Bước 3: Để tịnh hóa ác nghiệp đã tạo, ta có thể đọc tụng kinh điển hoặc trì chú. Đây là năng lực áp dụng mọi thuốc chữa.
Bước 4: Sau khi đã áp dụng phương pháp để đối trị, lúc này ta nghĩ rằng ta sẽ không tái phạm những việc làm sai trái như vậy một lần nào nữa. Đây là năng lực chừa bỏ tà hạnh.
Chúng ta có thể áp dụng bốn năng lực này để thanh lọc cho bản thân bằng cách nghĩ đến ác nghiệp của mình và thực hành tịnh hóa chúng, hoặc nghĩ đến ác nghiệp của người khác để thanh lọc giúp cho họ.
Ở đây có một điểm quan trọng là sau khi áp dụng phương pháp thanh lọc này trong một khoảng thời gian, làm sao chúng ta có thể biết được ác nghiệp của mình đang dần được tịnh hóa? Tổ Tsongkhapa hướng dẫn rằng có một số dấu hiệu cho ta biết phương pháp thanh lọc này đang hữu hiệu với mình. Đó là một số dấu hiệu trong giấc mơ như nằm mơ thấy mình đang bay, đang tắm dưới nước hoặc bị nôn mửa. Đây là ba dấu hiệu cho thấy ác nghiệp đang dần dần được thanh lọc.
Tuy nhiên, không phải cứ nằm mơ thấy một trong ba dấu hiệu trên là chứng tỏ phương pháp thanh lọc có công hiệu với mình. Sau khi nằm mơ, buổi sáng thức dậy, ta sẽ cảm thấy cơ thể nhẹ nhàng và tinh thần sảng khoái, vui vẻ. Như vậy, việc nằm mơ kèm với việc thấy thân và tâm nhẹ nhàng sau khi thức dậy là dấu hiệu cho thấy ác nghiệp của mình đang được tịnh hóa.
Ta cần hiểu rõ ý nghĩa của giấc mơ trong đạo Phật và trong khoa học khác nhau như thế nào. Nhà tâm lý học Sigmund Freud có viết một cuốn sách về những dấu hiệu của giấc mơ. Theo nhà tâm lý học này, giấc mơ nào cũng quan trọng và đều có ý nghĩa. Tuy nhiên, đạo Phật nói rằng không phải giấc mơ nào cũng có ý nghĩa và chỉ vài giấc mơ có ý nghĩa đặc biệt mà thôi. Đó là điểm khác biệt.
Nếu chúng ta có những dấu hiệu trong giấc mơ như trên, cộng với sáng sớm thức dậy, cả thân và tâm đều nhẹ nhàng, ta có thể xem đó là những dấu hiệu cho thấy phương pháp thanh lọc có hữu hiệu đối với mình, ác nghiệp của mình đang được tịnh hóa.
Cần lưu ý rằng không phải ai cũng có những dấu hiệu trong mơ như vậy. Có một lần Thầy giảng về những dấu hiệu này, một học trò là nữ nói với Thầy rằng: “Thưa Rinpoche, sau một thời gian thực hành phương pháp thanh lọc, con vẫn không có nằm mơ”. Khi đó, Thầy trả lời rằng xác suất nằm mơ thấy những dấu hiệu như vậy chỉ có 60-70%. Thầy nói rằng Thầy không có quyết định được việc các học viên có nằm mơ hay không.
Trong tuần này, chúng ta hãy thực hành phương pháp thanh lọc nhờ bốn năng lực. Nếu có điều gì chưa rõ, chúng ta có thể tham khảo thêm trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay (trang 692, quyển 1).
Thầy hỏi chúng ta có hay đọc sách Giải Thoát Trong Lòng Tay sau buổi học hay không? Thầy kể câu chuyện: có một người đàn ông làm nghề bán từ điển. Người đàn ông này đi gõ cửa từng nhà để bán từ điển. Ông ta gõ cửa nhà một cô gái để rao bán, nhưng cô gái ấy nói đã mua từ điển rồi. Người đàn ông này nói rằng cuốn từ điển của anh ta rất dày và hay. Cô gái trả lời: “Tôi đã có một cuốn từ điển giống như vậy”. Người đàn ông bảo rằng: “Vậy cô chỉ cho tôi biết là cô đã mua cuốn từ điển đó ở đâu”. Cô ấy chỉ tay về phía góc phòng rất xa và nói: “Cái cuốn dày có gáy màu xanh lá cây là cuốn từ điển, tôi đã mua rồi”. Người bán từ điển nói rằng: “Đó là sách dạy Phật pháp, không phải là cuốn từ điển”. Cô gái rất ngạc nhiên, mời người bán từ điển vào nhà và nói rằng: “Tôi đồng ý mua cuốn từ điển của anh nhưng anh phải nói cho tôi biết vì sao nhìn một khoảng cách xa như vậy mà anh vẫn nhận ra đó là cuốn sách dạy Phật pháp mà không phải là cuốn từ điển”. Người bán từ điển mới cười và nói rằng: “Tôi thấy cuốn sách khá là dày và đóng bụi cả lớp trên đó, nên tôi biết chắc chắn đó là cuốn sách dạy Phật pháp”.
Cũng giống như vậy, chúng ta có sách ở nhà thì mang ra đọc, chứ đừng để đóng bụi (Rinpoche cười).
NGÀY THỨ 14 – PHẠM VI TRUNG BÌNH
Ở ngày thứ 14, chúng ta bắt đầu bước sang phạm vi trung bình. Ngày thứ 14 nói nhiều về đau khổ, đặc biệt là đau khổ ở cõi người.
Có sáu loại khổ trong cõi luân hồi (trang 16, quyển 2)
1/ Đầy bất trắc
2/ Không toại ý
3/ Nỗi khổ phải bỏ thân
4/ Nỗi khổ liên tục vào thai
5/ Nỗi khổ lăn lóc lên xuống
6/ Nỗi khổ không ai cứu giúp
Loại khổ đầu tiên là cõi luân hồi đầy bất trắc. Nghĩa là trong cõi luân hồi này điều gì cũng có thể xảy ra, không ai nói trước được điều gì cả. Ví dụ, bạn bè có thể trở thành kẻ thù, kẻ thù có thể trở thành bạn bè. Loại đau khổ thứ hai trong luân hồi là không toại ý. Kế nữa là nỗi khổ phải bỏ thân. Nghĩa là sống trong luân hồi này, ta chết ở đời này rồi phải tái sinh ở một đời khác. Ta phải bỏ thân cũ lấy thân mới. Nói chung, trong luân hồi này có nhiều đau khổ, tóm gọn lại là có sáu loại đau khổ (trang 16, quyển 2).
Ở đây phân ra các loại đau khổ trong cõi luân hồi gồm có sáu loại, vì chúng sinh nào sinh ra trong cõi luân hồi này đều phải trải qua 6 loại đau khổ này, không ai có thể thoát khỏi cả.
Hai loại đau khổ đầu tiên là đầy bất trắc và không toại ý. “Đầy bất trắc” nghĩa là trong cuộc đời này, có nhiều việc xảy ra ngoài liệu định của mình. “Không toại ý” là ta gặp những chuyện không suôn sẻ, không như ý mình. Đó là những điều ai cũng phải trải qua.
Ta không thể nào tránh được tất cả những khổ đau này, nhưng đạo Phật hướng dẫn làm sao vượt qua đau khổ, chuyển hóa những trải nghiệm đau khổ đó thành các trải nghiệm tích cực hơn. Làm sao có thể chuyển hóa được như vậy? Thứ nhất là ta cần tự tin. Nghĩa là ta nghĩ rằng tất cả mọi chuyện xảy ra cho mình đều có lý do. Đó là giúp ta phát triển bản thân trở nên tích cực hơn.
Tuy nhiên, khi đang đối mặt với nghịch cảnh, ta khó có thể nào thấy được hoàn cảnh khó khăn này đang giúp bản thân trở nên tốt hơn, tiến bộ hơn. Đó là lý do vì sao nhà tâm lý học Sigmund Freud nói rằng con người không thể nào đạt được hạnh phúc rốt ráo.
Thỉnh thoảng ta có xem các màn ảo thuật thì thấy nhà ảo thuật đưa tay không vào nón và kéo ra một con thỏ. Chúng ta có xem các màn ảo thuật đó chưa? Nếu thay vào vị trí của nhà ảo thuật là một chính trị gia, khi chính trị gia đưa tay vào nón, ông ta không lôi ra con thỏ mà lôi ra một vấn đề nào đó (Rinpoche cười).
Nhà tâm lý học Sigmund Freud nói rằng con người không thể nào hạnh phúc được vì lúc nào họ cũng thấy khó khăn ở xung quanh mình. Đạo Phật thì nói rằng tuy hoàn cảnh có khó khăn nhưng ta hoàn toàn có thể chuyển hóa nó. Để chuyển hóa, thứ nhất, ta cần thấy rằng tất cả mọi việc xảy ra cho mình là có lý do. Đó là giúp mình phát triển tốt hơn, trở nên tích cực hơn. Thứ hai là ta phải thấy rằng khó khăn chỉ là tạm thời và rồi sẽ chấm dứt, chứ khó khăn không tồn tại mãi mãi.
Nếu ta đặt câu hỏi cho những người khác rằng họ có đang thỏa mãn với những gì mình đang có hay không, hơn 90% sẽ đưa ra câu trả lời là không. Bởi vì ai cũng mong muốn có được những điều tốt đẹp hơn.
Theo quan điểm của đạo Phật, Đức Phật không cấm chúng ta tìm kiếm những điều tốt đẹp hơn so với hiện tại, nhưng Ngài dạy rằng trong lúc chúng ta đang tìm những điều tốt đẹp hơn cho bản thân thì cũng phải biết vui vẻ với những gì hiện tại mình đang có được. Đó là cách Đức Phật dạy ta phải chuyển hóa.
Tại sao chúng ta không hạnh phúc, vui vẻ được với hiện tại? Có nhiều lý do cho việc này. Một trong những lý do chính là vì ta nhìn hoàn cảnh khó khăn trước mắt với thái độ tiêu cực. Đạo Phật dạy chúng ta phải thay đổi cách nhìn, quan sát hoàn cảnh khó khăn của mình theo hướng tích cực. Cụ thể là ta phải thấy được rằng hoàn cảnh khó khăn đang giúp ta chuyển hóa thành con người tốt hơn, tích cực hơn.
Ở ngày thứ 14, chúng ta sẽ học về những đau khổ, đặc biệt là sáu loại đau khổ mà bất cứ ai sống trong cõi luân hồi này đều phải trải qua. Vượt qua những đau khổ đó, ta phải nhớ các bài học mà Đức Phật đang dạy cho mình. Thứ nhất là tất cả mọi khó khăn, thử thách xảy ra cho mình đều có lý do. Đó là giúp mình hoàn thiện hơn. Thứ hai là ta nghĩ rằng đau khổ sẽ không tồn tại mãi mãi, rồi sẽ qua đi và tương lai tươi sáng sẽ đến với mình. Thứ ba là nghĩ rằng những đau khổ xảy đến với mình là kết quả của ác nghiệp mình đã tạo và ta chấp nhận nó. Thực hành nghĩ đến ba điểm quan trọng này, chúng ta sẽ có thể bước qua mọi khó khăn với thái độ tích cực.
Lúc nào chúng ta cũng phải nghĩ rằng bản thân đã hoàn hảo, nhưng vẫn còn có thể trở nên tốt hơn nữa. Hãy giữ thái độ đó để vượt qua khó khăn. Ta hãy vui vẻ, hạnh phúc với những gì đang có nhưng hoàn toàn có thể tìm kiếm thêm những điều tốt đẹp hơn cho mình.
Thầy vẫn thường hay nói rằng trong cuộc sống, chúng ta nên làm ba điều. Thứ nhất là ta nên làm những điều giúp cho cơ thể khỏe mạnh. Thứ hai là ta cần làm những điều giúp cho tinh thần được vững vàng. Thứ ba là nên làm những điều để tiền trong tài khoản ngày càng nhiều hơn. Ngoài ba điều này, những việc khác mà chúng ta làm chỉ là việc làm vô nghĩa mà thôi.
Vì thế, nếu chúng ta có dự định làm việc gì thì nên suy nghĩ xem việc đó có giúp mình khỏe hơn hay không, có giúp tinh thần mạnh mẽ hơn hay không, có giúp mình có nhiều tiền hơn hay không. Nếu việc đó không đáp ứng ba mục tiêu này, ta phải xem xét lại có nên làm hay không vì nó có thể là việc làm vô nghĩa.
Đức Phật dạy rằng chúng ta hãy vui vẻ, hạnh phúc với những gì đang có, nhưng hãy tìm thêm những điều giúp mình trở nên tốt hơn. Tuy nhiên, trong cuộc sống, ta thường mải mê chạy theo những thứ khiến mình trở nên tốt hơn, mà lại quên mất việc hạnh phúc với những gì đang có.
Chúng ta đang học về sáu loại đau khổ trong luân hồi. Bên cạnh những đau khổ của cõi người, sách Giải Thoát Trong Lòng Tay cũng liệt kê những đau khổ ở các cõi khác trong luân hồi như cõi địa ngục, cõi thiên… nhưng Thầy sẽ không đi vào chi tiết về phần này. Vì chúng ta đang sống ở cõi người thì không cần tìm hiểu đau khổ ở cõi địa ngục hay cõi thiên làm gì.
Thầy kể câu chuyện: Có một vị tu sĩ thực hành rất miên mật, sau đó bị bệnh rất nặng. Vị này đến gặp bác sĩ thì bác sĩ bảo rằng: “Thầy phải về nghỉ ngơi trong ba tháng, nếu không sẽ không khỏi bệnh. Vị tu sĩ này nói rằng: “Tôi không thể nghỉ ngơi được. Tôi phải thực hành nghiêm túc việc trì tụng câu chú của Đức Phật A Di Đà để khi chết, tôi mới được vãnh sanh lên cõi tịnh độ của Phật A Di Đà”. Bác sĩ mới nói với vị tu sĩ đó rằng: “Hiện bệnh của thầy khá nghiêm trọng. Thầy chỉ có hai lựa chọn. Một là thầy dành ra ba tháng đi Thụy Sĩ để nghỉ ngơi chữa bệnh. Hai là đi về cõi Phật A Di Đà”. Khi nghe như vậy, vị tu sĩ nổi giận và rời khỏi phòng khám của vị bác sĩ đó. Nhưng 10 phút sau, vị tu sĩ quay trở lại gõ cửa phòng khám bác sĩ, đi vào và nói với bác sĩ rằng: “Tôi chọn đi Thụy Sĩ chữa bệnh”.
Ngay cả một vị tu sĩ muốn đời sau vãnh sanh về cõi tịnh độ của Phật, nhưng ở đời này ông ta vẫn muốn sống. Vậy chúng ta đang sống trong cuộc đời này thì tại sao lại băn khoăn tìm hiểu nỗi khổ ở cõi khác làm gì?
Cõi người của chúng ta vốn dĩ có rất nhiều vấn đề cần phải đối mặt và thay đổi. Chúng ta đâu cần phải tìm hiểu những vấn đề rắc rối khác. Bây giờ vấn đề lớn nhất, cần phải thay đổi nhất trong đời của con người là gì? Đức Phật nói đó là phiền não, là vấn đề trầm trọng nhất của mình. Phiền não là những thứ quấy nhiễu tâm mình, khiến ta không hạnh phúc, bất an. Đó là những gì ta phải đối mặt và giải quyết.
NGÀY THỨ 15
Ngày thứ 14 chỉ nói về những đau khổ của các cõi, để chúng ta nhận diện những đau khổ đó. Sang ngày thứ 15 (trang 62, quyển 2) có đề cập đến những điểm Phật pháp sâu sắc hơn. Đó là nhận diện những phiền não trong tâm.
Trong lớp học, có học viên nào nhỏ hơn 13 tuổi hay không? Nếu có, hãy gõ vào ô tin nhắn cho Thầy biết. Những học viên nào nhỏ hơn 13 tuổi có thể thu xếp thời gian đến gặp Thầy vào cuối tháng này khi Thầy đến Việt Nam.
Vấn đề căn bản mà chúng ta cần phải đối mặt và giải quyết là những phiền não trong tâm. Vậy tâm ta có những phiền não như thế nào?
Có sáu phiền não căn bản (trang 63, quyển 2) gồm tham, sân, kiêu mạn, ngu si, tà kiến và nghi.
Trong các phiền não căn bản, có tâm giận dữ, tâm kiêu mạn… Đó là những phiền não khiến ta bất an. Khi học trong trường hay ngoài xã hội, chúng ta không được hướng dẫn cách kiểm soát kiêu mạn, giận dữ… Ở đây Phật pháp sẽ hướng dẫn làm thế nào kiểm soát được phiền não.
Ngay đầu trang 63, quyển 2 có bốn câu:
Sáu phiền não vi tế và rộng rãi
Trong hiện hữu sinh tử là:
Tham, sân, kiêu mạn
Ngu si, tà kiến, nghi
Chúng ta cần phải học thuộc lòng bốn câu này để nhận diện sáu phiền não căn bản.
Đầu tiên, ta hãy học thuộc lòng đoạn kệ gồm bốn câu này để biết sáu phiền não căn bản là gì, dần dần trong các buổi sau Thầy sẽ hướng dẫn chúng ta những phiền não đó hoạt động như thế nào và làm sao kiểm soát được chúng. Chúng ta hãy thuộc lòng bốn câu này.
Kinh nghiệm của Thầy trong lớp học là khi Thầy bảo học trò học thuộc lòng thì 90% sẽ không làm. Thầy thường nói với học trò rằng là học trò không học thì cũng không sao. Vì nếu học trò thực hành chăm chỉ thì sẽ sớm giác ngộ, khi đó Thầy không còn ai để dạy nữa. Nếu học trò không thực hành thì cũng tốt vì Thầy lại tiếp tục dạy nữa, vẫn còn có việc để làm.
Cho nên, nếu chúng ta thực hành thì rất tốt, còn không thực hành thì cũng tốt. Cả hai đều tốt, có thực hành thì có thêm chữ “rất” mà thôi. Chúng ta hãy chọn có muốn thực hành hay không, muốn “tốt” hay “rất tốt”.
Chúng ta hãy học thuộc lòng đoạn kệ trên để nhận diện được sáu phiền não căn bản: tâm tham, tâm sân giận, tâm kiêu mạn, ngu si, tà kiến (suy nghĩ sai lầm) và tâm nghi (nghi ngờ). Việc học thuộc lòng giúp ta gia tăng trí nhớ. Hiện tại có nhiều người mắc chứng bệnh mất trí nhớ. Khi lớn tuổi, họ không ghi nhớ được nhiều thứ. Đó là do chúng ta trải qua nhiều căng thẳng trong cuộc sống, tâm ta không nghĩ đến hiện tại mà cứ lo lắng về tương lai, nên càng ngày khả năng ghi nhớ càng giảm sút. Để tăng khả năng ghi nhớ, hãy thỉnh thoảng học thuộc lòng vài đoạn. Đó là những gì chúng ta cần thực hành trong tuần này.
Quan trọng nhất là có hai điều ta cần làm trong tuần này. Thứ nhất, bất cứ hoàn cảnh khó khăn nào xảy đến với mình, chúng ta cần phải giữ ba thái độ như Thầy vừa hướng dẫn. Thứ hai là học thuộc lòng bốn câu trên. Khi chúng ta đã học Phật pháp, ít nhất cuộc sống của mình phải thay đổi. Khó khăn lúc nào cũng có, nhưng tâm thái của mình khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn phải thay đổi sau khi đã học Phật pháp.