Lamrim 2023
TUẦN 110 – NGÀY 05/11/2025
CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT
(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)
Nếu không có gì bất tiện, chúng ta hãy bật video lên. Trong lúc giảng, Thầy nhìn thấy mặt học trò thì sẽ đoán được học trò có hiểu bài hay không.
Trong buổi học hôm nay Thầy sẽ dành một chút thời gian để tóm tắt phần thiền chỉ (Samatha) và sau đó Thầy sẽ sang phần thiền quán, tức trí tuệ ba la mật.
Nếu nhìn lại toàn bộ lời dạy của Đức Phật, khoảng 60-70% những gì Phật thuyết giảng hầu hết đều về trí tuệ. Tại sao Đức Phật lại dành rất nhiều thời gian thuyết giảng về trí tuệ? Nếu ta nhìn vào tam độc, tức tham - sân - si, độc thứ 3 chính là si mê thì cách chữa trị duy nhất loại độc này là thực hành trí tuệ. Chỉ có thực hành trí tuệ mới có thể chữa được độc si mê.
Si mê ở đây đồng nghĩa với vô minh. Nếu không thực hành trí tuệ ba la mật thì không có cách nào đối trị được vô minh. Chính vì thế, Đức Phật đã dành rất nhiều thời gian để thuyết giảng về trí tuệ. Chúng ta đã học đến chương cuối của Giải Thoát Trong Lòng Tay và bắt đầu đi vào phần trí tuệ ba la mật.
Khi nói đến trí tuệ ba la mật, nói đến trí tuệ trong đạo Phật nói chung, ta cần hiểu rõ trí tuệ ở đây ám chỉ điều gì? Nếu hỏi “Trí tuệ là gì?”, câu trả lời sẽ như thế nào? Trả lời câu hỏi này không đơn giản như chúng ta nghĩ. Để trả lời câu hỏi “Trí tuệ là gì?”, đầu tiên ta phải trả lời câu hỏi “Vô minh là gì?”. Nếu không hiểu được bản chất của vô minh, ta không có cách nào hiểu được trí tuệ.
Đức Phật nói rằng vô minh chính là trạng thái tâm mà không thể nào nhìn thấy được thực tại đúng như bản chất của nó. Ngược lại, trí tuệ là một trạng thái tâm có khả năng nhìn đúng bản chất của thực tại thông qua lập luận và logic. Trong đó, chia nhỏ ra thành nhiều tầng mức của trí tuệ. Và Đức Phật cũng khẳng định rằng khi thực hành 6 ba la mật, nếu thực hành 5 ba la mật đầu tiên mà không kết hợp với trí tuệ ba la mật thì cũng chỉ là thực hành mù quáng mà thôi. Nếu như chúng ta thực hành lòng bi mẫn mà không kết hợp với trí tuệ thì quá trình thực hành bi mẫn đó cũng chỉ là thực hành mù quáng. Không những vậy, đối với tất cả các pháp tu trong đạo Phật, nếu ta không kết hợp với trí tuệ thì cũng chỉ là tu mù.
Bây giờ Thầy đặt câu hỏi cho chúng ta: “Nếu bây giờ buộc phải chọn giữa lòng bi mẫn và trí tuệ, ta chọn bên nào?”. Nếu chọn trí tuệ, ta thông minh nhưng lại không có tử tế với người khác. Còn chọn bi mẫn, ta lại rất tử tế với người khác, nhưng không có thông minh. Trong cuộc sống, có những lúc ta buộc phải chọn và một khi đã chọn thì không nên hối hận. Nếu như đã ra quyết định, sau đó lại cảm thấy hối hận thì lần sau khi đối mặt với một quyết định mới, ta sẽ không làm tốt được. Trong trường hợp ta nhận thấy cần phải đổi hướng thì phải đổi ngay lập tức. Cho dù thế nào, cũng không nên hối hận về những quyết định đã qua. Bây giờ Thầy hỏi: “Giữa lòng bi mẫn và trí tuệ, chúng ta chọn bên nào?”. Tuy nhiên, Đức Phật nói rằng lúc nào cũng phải kết hợp cả hai.
Tầng mức cao nhất của trí tuệ trong đạo Phật là ta tu tập trí tuệ để đến một ngày nào đó có thể hiểu được thắng nghĩa đế, tức là sự thật rốt ráo về thực tại. Thắng nghĩa đế ở đây có nghĩa là gì? Đức Phật dạy rằng tánh không là thực tại rốt ráo. Vậy tánh không là gì? Để hiểu được tánh không, trước hết ta phải hiểu được vô ngã. Thời điểm nhìn thấy trực diện được bản chất vô ngã thì lúc đó ta đến được tầng mức cao nhất của trí tuệ. Khi đạt đến trải nghiệm trực tiếp về vô ngã thì tất cả các suy nghĩ trước đó như ích kỷ, ái ngã… đều tự nhiên biến mất. Nếu trong tâm mình không còn sót lại một chút suy nghĩ nào cho bản thân, không còn sót lại một chút suy nghĩ nào vị kỷ, ái ngã… thì sân giận, bám chấp không có cơ hội phát triển trong tâm mình. Thầy vừa tóm lược cho chúng ta hiểu một cách đơn giản trí tuệ là gì. Trong các buổi học tiếp theo, Thầy sẽ đi sâu vào chủ đề này.
Câu hỏi tiếp theo: “Vô ngã là gì?”. Vô ngã có hiểu đơn giản là không có ngã. Nếu như Thầy dịch chữ này, Thầy sẽ nói rằng vô ngã là không tôi, tức là không có tôi. Nói đến trí tuệ ba la mật, Đức Phật có thuyết giảng về 3 tầng mức khác nhau của trí tuệ: Văn - Tư - Tu. Đó là kết quả của trí tuệ có được nhờ “văn”, tức lắng nghe giáo pháp; trí tuệ có được nhờ “tư”, tức phân tích và chiêm nghiệm về giáo pháp; và trí tuệ có được nhờ “tu”, tức thực hành thiền định. Cho nên, 3 mức độ của trí tuệ là 3 kết quả mà ta có được thông qua Văn - Tư - Tu về giáo pháp.
Ở mức độ thấp nhất, ta hiểu được trí tuệ thông qua văn tự chữ nghĩa, tức là đọc sách, nghe đạo sư hướng dẫn thì hiểu được về mặt lý thuyết trên ngôn từ. Sang tầng mức thứ 2, ta bắt đầu hiểu được trí tuệ thông qua phân tích, lập luận của bản thân, tức là ta bắt đầu có sự thuyết phục về trí tuệ thông qua những lập luận của bản thân trong quá trình thiền quán, phân tích. Ở tầng mức thứ 3, ta đưa tất cả những gì mình kết luận được trong quá trình phân tích, lập luận đó vào việc thiền định. Cuối giai đoạn thiền quán về trí tuệ này, ta sẽ bắt đầu có được trải nghiệm trực tiếp về trí tuệ.
Nếu so sánh quá trình tu tập trí tuệ với một quá trình phát triển các kỹ năng khoa học thì sẽ như thế này: khi học một môn khoa học ở trong trường, ban đầu ta nghe thầy cô giảng lý thuyết, sau đó tới giờ thực hành vào phòng thí nghiệm. Giờ lý thuyết đó cũng được so sánh với mức độ thứ nhất của trí tuệ mà ta có được về môn khoa học đó. Khi ta vào phòng thí nghiệm, tự tay thực hành những gì mình đã được học trên lớp thì sẽ đạt được mức độ thứ 2 về môn khoa học đó, mức độ trí tuệ thông qua phân tích và lập luận. Nhưng đối với việc học các môn khoa học, không có mức độ thứ 3 của trí tuệ.
Khi học về vô ngã và tánh không, chúng ta cần phải đi theo 3 bước, từ thấp đến cao. Khi tìm cầu trí tuệ Bát nhã, trước nhất ta phải có văn tuệ, tức là trí tuệ có được nhờ nghe giáo pháp và học hỏi từ kinh điển. Thứ 2 là đến tư tuệ, tức trí tuệ có được nhờ phân tích và quán chiếu về giáo pháp. Sau đó, ta đưa tất cả thành quả của văn tuệ và tư tuệ vào thời thiền của mình và thành quả sau cùng của các thời thiền định về trí tuệ là ta đạt được trải nghiệm trực tiếp về vô ngã. Chỉ khi phát triển được trí tuệ thông qua thiền định, ta mới có được trải nghiệm trực tiếp về vô ngã. Lúc đó, trong tâm hoàn toàn không còn suy nghĩ về vị kỷ, ái ngã… và tam độc tham - sân - si cũng sẽ biến mất.
Chúng ta có hiểu điểm này hay không? Nếu như chúng ta nói hiểu, nghĩa là chỉ trong vòng 30 phút buổi học hôm nay học trò đã hiểu rất sâu về trí tuệ ba la mật, cho nên chúng ta học rất nhanh (Rinpoche cười).
Thầy nghĩ có 2 nguyên nhân vì sao chúng ta hiểu rất nhanh. Lý do thứ nhất là các học trò đều rất thông minh, vì có sẵn thông minh nên hiểu được lời giảng của Thầy rất nhanh. Nguyên nhân thứ 2 là Thầy đã diễn giải giáo pháp thâm sâu của Đức Phật bằng ngôn từ đơn giản nên các học trò dễ tiếp thu. Bây giờ Thầy hỏi chúng ta nhờ đâu mà dễ hiểu. Chúng ta chọn lý do thứ nhất hay là lý do thứ 2, do Thầy giảng dễ hiểu hay là do bản thân chúng ta rất thông minh? Bây giờ chúng ta có thể sẽ nghĩ rằng chúng ta thấy dễ hiểu là nhờ Thầy, nhưng khi càng học được nhiều, càng lúc chúng ta sẽ nhận ra là nhờ bản thân mình, chứ không hẳn nhờ Thầy.
Cho nên, một khía cạnh khác của quá trình tu học về trí tuệ là chúng ta phải liên tục quan sát rủi ro. Đó là khi ta nắm càng nhiều kiến thức, có càng nhiều sự chứng ngộ thì có càng phát triển tâm ngạo mạn hay không. Nhưng Thầy sẽ rất vui nếu chúng ta một ngày nào đó chuyển từ lý do thứ 2 sang lý do thứ nhất, cho rằng nhờ bản thân có trí tuệ, có thông minh nên hiểu pháp. Bởi vì lúc đó công việc giảng dạy của Thầy gần như hoàn tất rồi.
Tất cả các môn khoa học thế tục chỉ có 2 tầng mức của kiến thức, trí tuệ. Đó là về mặt lý thuyết và trên phương diện thực hành. Riêng với trí tuệ ba la mật, có 3 phương diện. Thứ nhất là văn tuệ, đến tư tuệ, rồi đến tầng mức cao nhất là tu tuệ. Tức là ta đưa tất cả những gì học được từ đạo sư, những gì phân tích được của bản thân vào quá trình thiền sâu, thiền quán về trí tuệ để có được trải nghiệm trực tiếp về trí tuệ.
Khi triển khai giáo lý về trí tuệ ba la mật, Đức Phật trước hết nói về tánh không. Khi bắt đầu thuyết giảng về tánh không, Ngài đã thuyết rất nhiều về vô minh. Khía cạnh vô minh mà Ngài nói đến là sự vô minh không thấy được vô ngã. Chính vì không thấy được vô ngã, nên ta mới sinh tâm chấp ngã, lúc nào cũng cho rằng cái tôi của mình là chắc thật và chấp vào cái tôi đó.
Chúng ta hãy nhìn lại tất cả các giao tiếp hằng ngày của mình, suy nghĩ nào xuất hiện trong tâm nhiều nhất và chữ nào ta dùng nhiều nhất? Suy nghĩ xuất hiện nhiều nhất trong tâm mình là những suy nghĩ liên quan đến bản thân, liên quan đến cái tôi và chữ mà ta nhiều dùng nhiều nhất mỗi ngày là chữ “tôi”. Tùy vào tình huống, ta dùng tôi hay xưng em, xưng chị, xưng con…, tất cả những từ đó đều ám chỉ cái ngã của mình.
Thầy nói rằng chúng ta hãy đếm xem trung bình mỗi ngày mình dùng bao nhiêu chữ “tôi” trong các lần giao tiếp của mình. Khi bắt đầu quan sát được mình nghĩ về bản thân nhiều đến chừng nào, dùng từ ngữ để ám chỉ cái tôi nhiều đến mức nào, chúng ta sẽ phát hiện ra suy nghĩ về bản thân chính là nền tảng của tất cả suy nghĩ khác phát sinh trong tâm và đó cũng chính là căn nguyên phát sinh ra tất cả mọi phiền não trong tâm.
Để phát hiện được quá trình suy nghĩ về bản thân, về cái tôi gây ra phiền não như thế nào, ta cần phải nhìn ngược vào bên trong tâm mình. Từ lúc thức dậy vào buổi sáng cho tới lúc đi ngủ vào buổi tối, cả một ngày ta nghĩ về bản thân mình bao nhiêu lần? Buổi sáng sớm thức dậy, soi gương, ta quan tâm đến diện mạo của bản thân, rồi nghĩ mình sẽ ăn gì hôm nay, tự hỏi không biết người ta nghĩ gì về mình, rồi suy nghĩ không biết người đó có còn quan tâm đến mình hay là không… Tất cả những suy nghĩ kiểu như thế đều là suy nghĩ cho bản thân. Một thực tế rõ ràng là ta dùng quá nhiều chữ “tôi” trong đời sống hằng ngày của mình.
Cách đây rất lâu, Thầy có tham dự một hội thảo. Trong buổi hội thảo đó, một người thuyết trình nói rằng người này đã ngừng dùng từ “tôi” để nói về bản thân. Thầy mới nói với ông ta rằng nếu ông đã ngừng dùng chữ “tôi” ở ngôi thứ nhất thì ông cũng nên ngừng luôn ngôi thứ 2, nghĩa là ngừng dùng chữ “bạn”. Nếu ta chỉ đang tránh né, tìm cách loại bỏ chữ “tôi” ra khỏi ngôn ngữ mình dùng, nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì sẽ không giúp ích được gì cả, chỉ gây khó khăn hơn trong giao tiếp mà thôi. Ở đây, cần phải thấy được mấu chốt của vấn đề là ta dùng chữ tôi nhiều tại vì suy nghĩ quá nhiều cho bản thân. Cho nên, suy nghĩ quá nhiều cho bản thân mới là điểm mấu chốt ở đây, chứ không phải là việc mình sử dụng chữ “tôi” nhiều hay ít.
Đức Phật dạy rằng, khi một người suy nghĩ về cá nhân mình thì có cách suy nghĩ đúng và có cách suy nghĩ sai. Ta thực hành điểm này bắt đầu bằng việc đếm xem mỗi ngày mình nghĩ về bản thân bao nhiêu lần. Thậm chí trong giấc mơ, ta có thể quên rất nhiều thứ về bản thân. Ví dụ như khi mơ thấy mình đang bay, nhưng trong giấc mơ đó, ta sẽ không bao giờ tự hỏi bản thân rằng tại sao mình bay được. Bởi vì trong giấc mơ đó, ta quên mất mình là con người, vốn dĩ con người không có khả năng bay. Tuy nhiên, có một điều là trong giấc mơ, chúng ta sẽ không bao giờ quên danh tính của mình. Ví dụ trong giấc mơ, có ai đó gọi tên mình, chúng ta sẽ trả lời ngay. Bởi vì tên của mình đã khắc ghi rất sâu rồi, đến nỗi ngay cả trong giấc mơ, ta cũng không quên danh tính của mình. Điều này không nhất thiết phải cần có trí tuệ ba la mật mới hiểu được. Chỉ cần chịu khó quan sát trải nghiệm của bản thân thì sẽ thấy được.
Bài tập tuần này rất đơn giản: hãy đếm xem trong một ngày chúng ta dùng chữ “tôi” bao nhiêu lần và quan trọng hơn nữa, trong một ngày chúng ta có những suy nghĩ riêng cho bản thân bao nhiêu lần.
Đức Phật đã dạy rất nhiều về trí tuệ. Những giáo pháp thâm sâu nhất về trí tuệ mà Đức Phật thuyết giảng được ghi chép lại trong Kinh Đại Bát Nhã. Cho nên phần còn lại của buổi học hôm nay, Thầy sẽ tụng Kinh Bát Nhã và hồi hướng rằng khi nghe Thầy tụng Kinh Bát Nhã, chúng ta sẽ có được gia trì của Đức Phật để phát triển được trí tuệ. Bản kinh Thầy sắp đọc là Bát Nhã Bát Thiên Tụng, với 8.000 bài kệ về trí tuệ ba la mật, được xem là một trong những bản kinh Bát Nhã linh thiêng nhất trong đạo Phật.
Trên tay Thầy là bộ kinh Bát Nhã Bát Thiên Tụng. Bất cứ lúc nào, khi đi đâu, dù có đang di chuyển trên đường, Thầy đều mang bản kinh này theo để trì tụng. Khi tụng kinh trên máy bay, Thầy luôn hồi hướng rằng nhờ việc Thầy tụng kinh mà tất cả mọi chúng sinh, ngay cả các loài thú ở vùng đất phía dưới máy bay, nơi máy bay đang bay ngang, đều nhận được gia trì từ Đức Phật. Bây giờ Thầy sẽ tụng kinh và hồi hướng rằng tất cả chúng ta nghe được bản kinh này sẽ phát triển được trí tuệ, có thể đạt đến được tầng mức cao nhất của trí tuệ và sau cùng sẽ hiểu được tánh không.
Có lần Thầy đã chia sẻ rằng Thầy cầu nguyện với Đức Phật gia trì cho học trò Dipkar giác ngộ trước Thầy. Dù Thầy tình nguyện là người giác ngộ sau cùng nhưng mà công phu tu tập để phát triển trí tuệ sẽ không đợi ai cả. Thầy sẽ vẫn cứ tiếp tục tu trí tuệ và phát triển trí tuệ về tánh không. Thầy sẽ không trì hoãn việc tu tập phát triển trí tuệ. Khi thiền quán rồi tu tập, ta sẽ thấy rằng có những lúc trí tuệ sẽ tự nhiên đến. Chỉ cần ta tu đúng đường, trí tuệ sẽ đến một cách tự nhiên. Bây giờ chúng ta nghe Thầy tụng Kinh Bát Nhã và hãy cầu nguyện.
Có 2 lý do Đức Phật thuyết Kinh Bát Nhã. Bởi vì trí tuệ Bát Nhã là yếu tố quan trọng nhất để nhổ tận gốc tất cả mọi phiền não trong tâm mình. Trong suốt 6 năm tu hành của Đức Phật, giai đoạn đầu Ngài tu khổ hạnh, sau đó Ngài nhận ra rằng tu khổ hạnh không đưa Ngài đi đến đâu cả. Ngài nhận ra là cần phải tu dưỡng trí tuệ. Cho nên ở đây, ta thấy rằng tu hành cật lực không hẳn đã tốt mà phải tu hành kết hợp với trí tuệ thì mới mang đến kết quả. Chính Đức Phật đã nhận ra tầm quan trọng của việc có được trí tuệ Bát Nhã trong quá trình thực hành của bản thân Ngài nên Đức Phật mới thuyết giảng giáo lý về trí tuệ Bát Nhã cho tất cả mọi người.
Lý do thứ 2 Đức Phật thuyết Kinh Bát Nhã giảng về trí tuệ là vì không có trí tuệ, tất cả các pháp tu mà ta thực hành đều là tu mù. Lòng bi mẫn không có trí tuệ cũng chỉ là mù quáng. Tín tâm mà không có trí tuệ cũng là tin mù. Chúng ta sẽ không đi đến đâu cả nếu không kết hợp với trí tuệ.
Chúng ta có biết ai là người thông minh nhất không? Người thông minh nhất là người dẫn dắt những người khác trở nên thông minh như họ. Đức Phật luôn khuyến tu các đệ tử là phải tu bồi trí tuệ, phải trở nên có trí tuệ, phải trở nên sắc sảo hơn trong suy nghĩ... Vậy người nào mà ghét những người thông minh? Người nào mà muốn trục lợi từ người khác thì rất ghét những người khác trở nên thông minh. Cho nên những người lãnh đạo không muốn mọi người thông minh, vì những người mà kém thông minh thì dễ dẫn dắt.
Đó là 2 lý do Đức Phật thuyết Kinh Bát Nhã và lúc nào cũng khuyến khích các học trò tu dưỡng trí tuệ. Đức Phật đã nỗ lực như thế, nhưng mà chỉ có số ít học trò của Ngài thật sự chứng được trí tuệ Bát Nhã. Trong đó, có 2 người đệ tử của Đức Phật là Ngài Xá Lợi Phất và Ngài Tu Bồ Đề thật sự đến được tầng mức cao nhất của trí tuệ. Chúng ta nhìn lại lịch sử xem ai là người đệ tử kém trí tuệ nhất của Đức Phật. Chúng ta thử tìm kiếm trên Google xem vào thời của Đức Phật, đệ tử nào là đệ tử kém trí tuệ nhất. Đệ tử kém trí tuệ nhất của Đức Phật là một người đệ tử mà không nhớ thời gian nào kết thúc lớp học. Thầy luôn nhớ thời gian kết thúc lớp học. Hôm nay chúng ta dừng buổi học ở đây (Rinpoche cười).