Thưa Thầy, Thầy có thể chỉ dạy cho chúng con sự khác nhau căn bản giữa Tiểu Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa không?

Đối với Tiểu Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa, tôi sẽ nói về những điểm giống nhau và khác nhau. Tổ Tsongkhapa có nói, “Một hành giả nên thực hành cả ba thừa cùng nhau.” Cả ba thừa thực hành này không thể tách rời nhau. Nếu chúng ta tuân thủ giới luật của tỳ kheo, tăng và ni, đó chính là thực hành theo Tiểu Thừa. Nói đến tánh không hay giác ngộ, đó là Đại Thừa. Nói đến những thực hành về bổn tôn là nói đến Kim Cang Thừa. Nếu chúng ta muốn trở thành một hành giả chân thật thì phải kết hợp cả ba lối thực hành này với nhau, không thể nào tách rời. Năm giới cư sĩ xuất phát từ truyền thống Tiểu Thừa. Khi nói về tâm giác ngộ và tánh không, phải căn cứ trên Đại Thừa; và những thực hành bổn tôn thuộc về Kim Cang Thừa. Cả ba pháp hành này phải được kết hợp với nhau. Khi không kết hợp ba pháp hành này thì chúng ta không thể thực hành được pháp nào cả. Nếu không kết hợp cả ba thì ngay cả một trong ba chúng ta cũng không thể thực hành được.

Bây giờ tôi nói đến sự khác biệt. Điểm khác biệt đầu tiên là tên gọi khác nhau. Đó là điểm khác biệt chung nhất. Giáo lý Tiểu Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa có quan điểm khác nhau. Ví dụ, nói đến Phật A Di Đà thì chỉ có trong Đại Thừa và Kim Cang Thừa. Khi nói đến Tiểu Thừa người ta chỉ công nhận đức Phật Thích Ca mà không có những vị Phật khác. Đó là một trong những điểm khác nhau. Khi xem xét hai đối tượng, hai thực thể khác nhau thì chắc chắn chúng sẽ có những điểm khác biệt. Tuy nhiên, chúng ta phải hiểu một điều: có những điểm khác biệt như vậy thì mới mang lại vẻ đẹp. Chúng ta hãy nhìn vào một khu vườn có rất nhiều loại hoa, nếu tất cả loài hoa đó đều có chung một màu thì sẽ rất nhàm chán, nếu khu vườn đó có rất nhiều hoa và sắc màu sặc sỡ thì khu vườn sẽ đẹp hơn. Khi đức Phật thuyết giảng nhiều thừa như vậy, mỗi thừa sẽ có những phương pháp thực hành riêng biệt của thừa đó. Tuy nhiên, là một hành giả chúng ta cần phải kết hợp tất cả những thừa đó với nhau, kết hợp tất cả những pháp thực hành đó với nhau; khi đó chúng ta mới là một hành giả chân thật, thực hành đúng chánh pháp của Phật. Nói đến mười bất thiện nghiệp thì mười bất thiện nghiệp này xuất phát từ giáo lý Tiểu Thừa. Đó là những giáo lý rất quan trọng và chúng ta không thể thực hành Kim Cang Thừa nếu không thực hành mười thiện nghiệp. Những thừa này có những điểm tương đồng và những điểm khác biệt, khi thực hành chúng ta cần phải kết hợp các pháp thực hành của cả ba thừa này với nhau. Nếu chưa biết về Tiểu Thừa và Đại Thừa thì không thể thực hành Kim Cang Thừa được.

Người phiên dịch hỏi lại: “Có thể thực hành Kim Cang Thừa mà không biết về Tiểu Thừa và Đại Thừa không?” Rinpoche: “Có thể! Có thể thực hành được như vậy nếu ở Việt Nam![Rinpoche cười lớn]

Nói chung, chúng ta không thể thực hành như vậy. Tuy nhiên ở Việt Nam thì có lẽ có khả năng [Rinpoche cười]. Ai không rõ thì nên đọc quyển Lamrim––Giải thoát trong lòng tay––trong đó chỉ ra từng giai đoạn và phương pháp thực hành. Trong đó, nói đến nhân quả và vô thường thì những giáo lý này xuất phát từ Tiểu Thừa. Nói đến ruộng phước và cây quy y thì những thực hành này xuất phát từ Kim Cang Thừa. Phần cuối là tánh không và tâm bồ-đề, tâm giác ngộ; đó chính là giáo lý Đại Thừa. Khi nói đến sáu ba-la-mật, trong đó có trì giới thì thật sự phần này cũng xuất phát từ Tiểu Thừa. Tuy nhiên khi nói đến ba-la-mật thứ sáu––bát-nhã ba-la-mật hay trí tuệ, điểm này xuất phát từ Đại Thừa. Do đó, nói chung khi thực hành Kim Cang Thừa, chúng ta phải kết hợp thực hành cả ba thừa––Tiểu Thừa, Đại Thừa và Kim Cang Thừa––với nhau, nếu không kết hợp được thì chúng ta sẽ không thể thực hành Kim Cang Thừa. Do đó, điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được những quan điểm khác nhau dựa trên ba thừa này. Vì vậy, tổ Tsongkhapa đã nói khi thực hành cần phải kết hợp cả ba thừa này với nhau.