Lamrim 2023
TUẦN 121 – NGÀY 15/04/2026
CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT (tiếp theo)
(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)
Thầy và học viên cùng phát khởi động cơ thanh tịnh trước buổi học pháp, bắt đầu tụng kệ Quy y Tam Bảo và phát tâm bồ đề (3 lần). Chúng ta đang thực hành pháp Đại thừa, không những nghĩ đến lợi ích của bản thân, mà còn nghĩ đến lợi lạc của tất cả chúng sanh. Với động cơ đúng đắn và kết thúc hồi hướng, việc học pháp mới trọn vẹn và thành tựu viên mãn.
Thầy giới thiệu tóm lược bốn học phần của sách Giải Thoát Trong Lòng Tay (xem mục lục quyển 1, trang 699 - 702 và quyển 2, trang 426 - 427).
Cách đào luyện tuệ quán đặc biệt
I) Xác định tính phi hữu của bản ngã (nhân vô ngã)
II) Xác định tính phi hữu của các hiện tượng (pháp vô ngã)
III) Cách triển khai tuệ quán đặc biệt
Phạm vi lớn chủ yếu nói về cách phát tâm bồ đề, sáu ba la mật. Trong sáu ba la mật, thiền định ba la mật chủ yếu hướng dẫn thiền tịnh chỉ, còn trí tuệ ba la mật chủ yếu hướng dẫn cách đào luyện tuệ quán đặc biệt.
Tánh không là một chủ đề khá khó. Lần đầu tiên học tánh không, chúng ta khó có thể hiểu được một cách sâu sắc, rõ ràng nên cần phải huân tập thói quen nghe đi nghe lại nhiều lần và quan sát, soi xét kỹ lưỡng về nghĩa của tánh không. Như vậy, chúng ta sẽ có lợi lạc hiểu thêm một chút về tánh không. Chúng ta cần tư duy lập luận phân tích cách thực hữu có tồn tại hay không. Đầu tiên, phân tích quan điểm vô thường trong Tứ Thánh Đế, Đức Phật đã nói rằng nguyên nhân của khổ đau là do vô minh, si mê, bám chấp.
Lấy ví dụ, chúng ta có lối suy nghĩ chưa đúng là không chấp nhận thân quý giá này sẽ đến lúc già nua và hủy hoại. Nỗi sợ hãi khi cái chết sắp đến là mất đi thân thể này vì luôn mong muốn thân này không rời bỏ ta. Hay ta suy nghĩ lên kế hoạch trước khi ngủ vào buổi tối và sáng hôm sau thức dậy thì có chắc rằng ta sẽ thực hiện theo đúng kế hoạch như suy nghĩ hôm trước hay không, hay là có sự thay đổi khác.
Đầu tiên, khi phân tích quan điểm vô thường thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là thường. Phân tích không có thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có. Xác định tính phi hữu của bản ngã thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có ngã. Xác định tính không chân thật thì hiểu là đang nắm giữ đối tượng cho là có thành lập chân thật. Chúng ta cần hiểu là có đang chấp trì nắm giữ đối tượng hay không.
Trước khi phân tích quan điểm tánh không đặc biệt thâm sâu, chúng ta cần phân tích, hiểu về quan điểm vô thường, xác định tính phi hữu của bản ngã và pháp vô ngã.
Thực hành thiền phân tích một phút về nhân vô ngã.
Lấy ví dụ, khi người khác cáo buộc mình ăn cắp, nói xấu mình thì cái tôi tự ái lập tức nổi sân lên vì nghĩ họ đã xem thường, nói lời nhục mạ muốn hãm hại mình. Chúng ta thực hành thiền phân tích truy tìm trạng thái cảm xúc đó nằm ở đâu trên cơ thể và sẽ không tìm thấy nó tồn tại ở bất kỳ bộ phận nào trên cơ thể.
Trước khi phân tích nhân vô ngã, cần phân tích “ngã” là gì, “chấp ngã” là gì, “chấp ngã câu sinh” là bản chất tự nhiên. Khi người nào làm lỗi với mình thì tâm mình lập tức khởi lên suy nghĩ “Người đó muốn hãm hại tôi” thì ngay lúc ấy ta lấy ngón tay trỏ chỉ vào cảm xúc đang tồn tại ở đâu trên cơ thể và khi quét hết tất cả các bộ phận trên cơ thể sẽ không tìm thấy cảm xúc nằm chỗ nào, không tìm thấy có cái ngã tồn tại.
Tại sao lại không có cái ngã tồn tại? Ví dụ, khi người khác nổi nóng dùng tay cầm cây gậy đánh lên đầu mình, nói lời nhục mạ mình thì ta liền phản kháng lại họ. Trong tình huống này, ta phân tích cảm xúc đau đớn này là một hay là khác với thân và khi truy quét, ta cũng sẽ không tìm thấy được nó tồn tại ở đâu.
Trích Trung Quán Căn Bản Trí Tuệ của Ngài Long Thọ:
“Cái ngã không là đất, không là nước
Không là gió, không là không gian
Không là tâm thức, cũng không là tất cả
Ngoài yếu tố trên thì cái ngã tìm thấy nơi nào khác?”
Nếu phân tích tìm kiếm các uẩn sẽ không thấy có ở bên ngoài, vậy thì nó tồn tại ở đâu? Nếu xét dựa trên tứ đại (đất, nước, gió, lửa), không gian, tâm thức tạo nên có cá thể, nhưng thực hành thiền phân tích tìm kiếm cái tôi sẽ không tìm thấy.
Thiền quán về nhân vô ngã: Sau một quá trình phân tách tất cả các bộ phận trên cơ thể thì “cái tôi” vẫn thường hay gọi sẽ không tìm thấy ở đâu cả. Cái tôi chỉ là tâm thức của mình tự tạo trình hiện mê lầm, ảo vọng, chứ trên thực tế là không có. Ví dụ, ta nghĩ rằng có cái ngã hiển hiện nơi trung tâm khi ai đó tác động đánh mình, nói xấu hãm hại mình, nhưng khi tìm kiếm, ta vẫn không tìm thấy cái tôi ở nơi nào.
II) Xác định tính phi hữu của các hiện tượng (pháp vô ngã)
1) Tính phi hữu của các pháp hữu vi
Bát Nhã Tâm Kinh phiên bản tiếng Tây Tạng, tiếng Ấn Độ, tiếng Việt Nam mở đầu giống nhau đều ghi rằng: “Tôi nghe như vầy, một thời Đức Thế Tôn ở tại núi Linh Thứu, nơi thành Vương Xá cùng với chúng đại Tỳ kheo và chúng đại Bồ Tát đồng câu hội”.
Trong Bát Nhã Tâm Kinh nói về chủ đề “tánh không”, giữa Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát và tôn giả Xá Lợi Phất tranh biện từ bản chất nhân vô ngã đến năm uẩn tự tánh cũng đều là không.
“Nương nơi oai thần Phật, tôn giả Xá Lợi Phất thưa hỏi Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát rằng: Nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn hành thậm thâm bát nhã ba la mật đa thì nên tu học như thế nào? Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát đáp lời tôn giả Xá Lợi Phất rằng: Xá Lợi Phất, nếu có thiện nam tử hoặc thiện nữ nhân nào muốn hành thậm thâm bát nhã ba la mật đa nên quán sát chân chánh hành tướng tự tánh năm uẩn cũng đều là không. Sắc tức là không, không tức là sắc, sắc chẳng khác không, không chẳng khác sắc. Tương tự thọ, tưởng, hành, thức v.v.. đều là không”.
Khi tư duy phân tích về cái tôi trong năm uẩn, “sắc” được hiểu là thân của tôi. Ví dụ, tôi không khỏe, tôi cần đi, tôi cần ở. “Thọ” được hiểu là cảm thọ. Ví dụ, tôi vui, tôi buồn. “Thức” được hiểu ví dụ như tôi hiểu rõ bài học. Cho nên, không là năm uẩn thì “cái tôi” cũng không có. Khi phân tích tìm kiếm cái tôi có nằm ở cái đầu hay không, hay ở phần cứng nào trong cái đầu, tiếp tục phân tích quét xuống con mắt, cái mũi, cổ họng, tay, chân… cũng không tìm thấy cái tôi ở đâu. Hoặc nói rằng con mắt của tôi, con mắt này thấy, hiểu, sinh ra từ đâu, có phải từ lông mi hay không và tiếp tục tìm kiếm phân tích cũng sẽ không thể nói con mắt này từ chi tiết như thế nào. Cho nên, khi tư duy như vậy, ta sẽ hiển hiện phân tích như trên.
Pháp vô ngã là tánh không của các đối tượng khác không phải là cái tôi, bao gồm các uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức).
Tất cả những gì tâm thức biết được là vô thường và thường nên khi nói chứng tánh không trên các uẩn - pháp vô ngã là chứng tánh không của các pháp vô thường và thường.
Các pháp vô thường chia làm 3 bộ phận:
Sắc là những điều về vật lý (những thứ mắt thấy, tai nghe, hương, vị…).
Tâm thức (buồn, vui, hiểu, giận…).
Bất tương ứng hành (những thứ thay đổi không phải sắc và tâm).
Tính phi hữu của vô vi pháp là các pháp thường hằng.
Khi biết được bốn mục (tánh không của sắc pháp; tánh không của tâm thức; tánh không của bất tương ứng hành; tánh không của các pháp thường hằng), ta sẽ biết được tánh không của tất cả các pháp, hiểu được cách chứng được tánh không của các uẩn.
1.1) Tính phi hữu của sắc pháp
Khi rà quét tìm kiếm cái tôi ở trung tâm hay chỉ tay vào các chi tiết trên bộ phận cơ thể như tay, chân, máu, xương, hay nói có các phần tử nhỏ cấu tạo nên ngón tay, xương, máu, thì cũng sẽ không tìm thấy. Trong Bát Nhã Tâm Kinh, có câu “Sắc tức là không” giải thích lúc nhập định, ta hiểu sắc tức là không, vì lúc đó nhập định và chứng được tánh không của sắc nên lúc đó sắc tức là không.
Khi ta tìm kiếm là cái này hay không là cái này cũng sẽ không tìm thấy được nó ở nơi nào, tức là phân tích không có thành lập chân thật từ chính nó. Nếu nói không có bản tánh của tánh không thì chưa đúng. Sau khi xuất định, ta thấy rằng tánh không cũng chính là sắc. Sắc lúc này là ta không còn nghĩ đến một đặc tính cố hữu của sắc để xác định pháp đó là sắc mà thấy rằng bản chất của sắc cũng chính là không. Khi “sắc” lúc này có trải nghiệm thấy, vui, buồn, hạnh phúc, đó là “Không tức là sắc”.
Thầy Thích Nhất Hạnh lấy ví dụ, khi ta nhìn vào bông hoa sen đẹp, nếu phân tích cái gì của bông hoa đẹp khiến mình nghĩ nó là đẹp? Cái nào tạo ra vẻ đẹp của bông hoa, là hoa hay là lá, nhánh, cành hoa, ta sẽ không tìm thấy được vẻ đẹp của bông hoa nằm ở đâu, nhưng ta cũng không thể nói rằng bông hoa sen đẹp này không có tồn tại chân thật, không có các bộ phận cấu tạo nên bông hoa. Nếu phân tích như vậy thì có lỗi hay không? Nó có hay không có chỉ là do tâm thức của mình gán đặt lên vẻ đẹp bông hoa mà thôi.
Ví dụ tương tự, chúng ta sử dụng tiền USD và thấy rằng đồng tiền có giá trị vì có vẽ hình ảnh biểu tượng của nước Mỹ và đi làm để kiếm tiền. Nhưng bản chất thực tế có thành lập chân thật không thì ta không tìm thấy có thành lập tự tánh.
Khi phân tích “không có chân thật”, “bản chất tánh không”, có 3 ví dụ:
Ví dụ 1: Chấp thực. Học viên đang thấy Thầy trên màn hình và lắng nghe, suy nghĩ về những gì Thầy phân tích về tánh không trên lớp học. Nhưng bản chất là học viên thấy trên màn hình giống như Thầy nhưng không phải là Thầy trên thực tế, đó chỉ là sự trình hiện và dựa vào đó mới thấy Thầy, mới nghe và học pháp. Như vậy, những điều đó có thành lập chân thật hay không? Không phải thành lập bản chất chân thật, không phải Thầy trên thực tế, không phải âm thanh thực tế. Đó chỉ là trình hiện mê lầm, ảo vọng.
Chúng ta thật sự có thấy Thầy xuất hiện trên màn hình, nghe được âm thanh của Thầy đang giảng pháp trên lớp, đó chỉ là sự hiển hiện suy nghĩ của mình cho rằng là có thật, nhưng bản chất đó là không thật. Khi ta chỉ tay vào hình ảnh của Thầy trên màn hình, dựa trên điều này mới thấy Thầy, nghe pháp Lamrim, trao đổi Thầy - trò trên lớp qua màn hình này.
Ví dụ 2: Ta chấp trong giấc mơ thấy mình gặp bạn bè, đi ăn uống. Đó là tình huống giống như chấp thực, tuy là huyễn ảo trong giấc mơ không có thật nhưng khi tỉnh dậy vẫn cảm thấy dễ chịu, vui vẻ vì có một giấc mơ đẹp và cảm thấy khó chịu, lo âu khi có một giấc mơ xấu. Đây là tương tự chấp thực. Khi ta nhận ra: “À, giấc mơ thôi mà, nó chỉ diễn ra trong giấc mơ, không có xảy ra trên thực tế”, đó là tương tự tánh không hiện tiền.
2) Tính phi hữu của tâm pháp
Khi ta có những trải nghiệm dễ chịu, khổ đau, hãy phân tích xem trạng thái tâm này vào buổi sáng, trưa, chiều, hoặc cái tâm hiện tại có giống trạng thái ở các thời điểm khác hay không. Ta thường cho rằng tâm là khối đặc cứng. Ta phân tích tìm kiếm xem trạng thái tâm thực tế nằm ở đâu? Ở tim, não, mắt, bộ phận nào trong cơ thể, hay bên ngoài do mắt ta thấy, tai nghe âm thanh, khi tỉnh giấc thì giấc mơ có trở thành hiện thực hay không và sẽ không tìm thấy tâm thức nằm ở đâu.
Nếu ta nói tâm thức hiển hiện như tập hợp một khối chắc chắn, nhiều nhân và duyên hợp thành. Tâm thức là tập hợp các sát na trước sau, thứ nhất, thứ hai, thứ ba… hay tâm thức có đối tượng, nhãn thức sinh khởi vì thấy có đối tượng sắc, nhãn thức tăng thượng duyên, có tâm thức trước, dựa trên thân thể, não… nhiều nhân duyên hợp lại. Nếu không có tụ hợp những yếu tố với nhau thì là trống rỗng, nhưng trống rỗng thì không phải là không có, vì có thuyết duyên sinh cái này phụ thuộc vào cái kia, sắc uẩn, các pháp nào có mặt ở trên đời đều phụ thuộc vào điều kiện, nguyên nhân để nó được sinh ra, nó phụ thuộc vào cái khác để tạo thành, nên nó không có thực, không có tự tánh. Nhưng tâm thức là không có thành lập chân thật.
Hôm nay Thầy phân tích nhiều về tánh không. Chủ đề về tánh không rất khó hiểu, nhưng chúng ta cũng không cần phải lo lắng, chán nản. Đức Phật có nói rằng:
“Thâm sâu, niết bàn, vô tác ý, quang minh, vô vi
Hạnh phúc tìm chân tâm như thấy cam lồ
Dù có giảng dạy, khó ai có được năng lực thấu hiểu
Như trú trong khu rừng đen mịt mù”.
Khi Đức Phật thành tựu quả vị Phật, Ngài đã thấu hiểu rõ ràng ý nghĩa quan kiến tánh không, nhưng người khác khó có thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu về tánh không, vì vậy Ngài chưa có giảng nhiều về chủ đề này. Cho nên, chúng ta sẽ thấy khó hiểu và thấy chán học về chủ đề tánh không. Có thể chúng ta chán đến mức ngủ gật trong giờ học nhưng dù sao cũng tốt vì giúp cho mình dễ dàng đi vào giấc ngủ hơn.
Thầy giới thiệu biểu tượng cặp nai và bánh xe pháp luân. Phía trên đỉnh của cổng chùa hay trên đỉnh mái chùa thường có biểu tượng chính giữa là bánh xe pháp luân, hai bên trái, phải là con nai. Khi Đức Phật thành tựu quả vị Phật, Ngài đã thấu hiểu rõ ràng ý nghĩa thâm sâu của tất cả các pháp, quan kiến thâm sâu tánh không, nhưng người khác khó có thể hiểu được ý nghĩa thâm sâu về tánh không nên Ngài chưa có ý định giảng pháp. Lúc ấy, hai vị vua trời Phạm Thiên, Đế Thích thỉnh cầu Đức Phật ban chuyển pháp luân ở cõi thế gian này. Tương tự, hai con nai trái, phải là tượng trưng cho hai vị vua trời thỉnh cầu chuyển pháp luân. Bánh xe pháp luân tượng trưng cho Đức Phật giảng pháp.
Ý nghĩa khác của biểu tượng trên là khi Đức Phật chuyển pháp luân đầu tiên thì có hai con nai đực, cái đến nghe pháp. Cho nên, ta sẽ thấy ở phía trên đỉnh mái chùa hay trên đỉnh cổng chùa của các chùa, tu viện Tây Tạng thường có biểu tượng này.