22-03-2026
Lamrim 2024
Download MP3

TUẦN 70 – NGÀY 22/03/2026

CHỦ ĐỀ: BẢY ĐIỂM LUYỆN TÂM (tiếp theo)

(Tôn sư Khangser Rinpoche hướng dẫn)

BẢY ĐIỂM LUYỆN TÂM

1/ Pháp hành sơ khởi: Đầu tiên thực hành các pháp sơ khởi

2/ Pháp hành chính yếu: Luyện tâm bồ đề

3/ Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

4/ Một pháp thực hành suốt đời

5/ Chuẩn mực tâm đã luyện (tâm thuần)

6/ Lời nguyện luyện tâm

7/ Lời khuyên luyện tâm

Hôm nay chúng ta sẽ học tiếp Bảy Điểm Luyện Tâm.

2.9: Tất cả việc luyện qua lời nói

Câu này có nghĩa là tất cả bài học nào mà chúng ta muốn thực hành thì cần phải học thuộc lòng. Như vậy sẽ dễ dàng hơn cho chúng ta trong quá trình thực hành.

Chúng ta đã học xong điểm số 1 và 2. Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu từ điểm số 3 -chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ.

3/ Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

Nghịch cảnh là những khó khăn và thử thách trong cuộc sống. Trong cuộc sống, không phải điều gì cũng diễn ra suôn sẻ theo ý mình, đôi lúc sẽ có những khó khăn và thử thách. Bài học luyện tâm cần phải áp dụng là chuyển hóa nghịch cảnh, xem nghịch cảnh là con đường đưa mình đến giải thoát, giác ngộ. Đó là ý nghĩa chính của phần này: chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ.

Ở đây sẽ hướng dẫn chúng ta cần phải thực hành như thế nào trong hoàn cảnh khó khăn. Thầy lấy ví dụ, chúng ta bị cơn đau dạ dày hành hạ khiến mình cảm thấy khó chịu. Trong lúc đang đau dạ dày, hãy nghĩ rằng: “Nguyện cho tất cả cơn đau dạ dày của tất cả chúng sinh sẽ rơi vào mình và mình sẽ gánh chịu thay cho chúng sinh”. Hãy nghĩ và thực hành như vậy. Cách nghĩ này giống như cầu nguyện cho tất cả mọi chúng sinh không ai phải gánh chịu cơn đau dạ dày nào như thế và bản thân sẽ thay thế chúng sinh gánh chịu tất cả mọi cơn đau dạ dày. Trong lúc ta chịu cơn đau dạ dày, ta nghĩ như thế để chuyển hóa cơn đau đó trở thành phẩm hạnh tốt đẹp, đó là con đường giác ngộ.

Chúng ta hãy học thuộc lòng hai câu trong điểm 3.1 với 3.2 để nhớ bài học này.

3.1: Khi thế gian tràn đầy lầm lỗi

3.2: Chuyển nghịch cảnh thành đường giác ngộ

“Lầm lỗi” có nghĩa là hoàn cảnh khó khăn của mình. “Khi thế gian tràn đầy lầm lỗi” nghĩa là ta thấy thế gian có khó khăn, tức ta đang phải đối mặt với khó khăn và thử thách. Lúc đó, ta hãy chuyển hóa khó khăn đó trở thành những tố chất tốt đẹp. Đó chính là con đường giác ngộ. Chúng ta hãy học thuộc lòng hai câu này để áp dụng thực hành.

3.4: Thiền quán tri ân đến tất cả

“Tất cả” ở đây có nghĩa là tất cả chúng sinh. Ta biết ơn tất cả chúng sinh, bởi vì văn bản luyện tâm này đặt trong tình huống chúng ta đã học xong cách phát tâm bồ đề, nghĩ rằng tất cả chúng sinh đều đã từng là mẹ của mình ở một đời nào đó trong quá khứ và đã từng đối xử tử tế với mình. Cho nên, hãy biết ơn tất cả mọi chúng sinh.

Đôi lúc chúng ta thờ ơ với những chúng sinh gặp đau khổ và khó khăn xung quanh mình. Đó là vì chúng ta không biết ơn, không nhớ tới những việc tốt đẹp mà họ đã làm cho mình. Cho nên, ta cần phải thực hành nghĩ rằng tất cả mọi chúng sinh đều đã từng làm những điều tốt đẹp cho mình. Đặc biệt ở trong những đời quá khứ, họ đã từng làm cha, làm mẹ của mình và đã từng đối xử tử tế với mình. Khi nhớ ơn, ta sẽ biết tri ân đến tất cả chúng sinh và từ đó làm nền tảng để phát sinh tâm từ bi vững chắc đối với tất cả chúng sinh.

Chúng ta hãy học thuộc lòng ba câu ở điểm 3.1, 3.2 và 3.4 để làm bài học quan trọng cho mình.

3.5: Mọi ảo hiện quán thành bốn thân

Câu này hiểu theo nghĩa đen khá phức tạp. Ý nghĩa cốt lõi của câu này là chúng ta thường hay có những suy nghĩ lệch lạc, sai lầm, hay bám chấp vào điều này, điều kia. Hãy nghĩ rằng tất cả mọi suy nghĩ sai lầm đó đều do tâm mình tạo ra.

3.6: Giữ vững tánh không, không gì hơn

Phương pháp tốt nhất bảo vệ tâm mình được an lạc là thiền quán về tánh không.

3.7: Cách tốt nhất với bốn pháp hành

Ở đây hướng dẫn rằng chúng ta hãy kết hợp bốn pháp hành này vào trong tất cả các phương pháp thực hành của mình. Chúng ta có thể tham khảo thêm trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay.

Bốn pháp hành gồm:

(1) Tích lũy công đức

(2) Tịnh hóa ác nghiệp

(3) Thực hành bố thí cho loài phi nhân (loài phi nhân là những loài tinh linh không phải là loài người)

(4) Cầu nguyện với hộ pháp

Khi thực hành bất cứ pháp nào, chúng ta hãy kết hợp bốn pháp hành này để trọn vẹn một pháp hành. Trong bốn pháp hành, pháp thứ tư - Cầu nguyện với hộ pháp - là quan trọng nhất. Bởi vì trong cuộc sống, không phải lúc nào mọi việc cũng diễn ra suôn sẻ theo ý mình. Khi đối mặt với hoàn cảnh khó khăn, chúng ta thường mất tự tin, nghi ngờ không biết bản thân có vượt qua được khó khăn, thử thách đó hay không. Cách giúp chúng ta vững vàng bước qua khó khăn là thực hành cầu nguyện với các vị hộ pháp. Đây là phương pháp thực hành khá quan trọng.

Khi cầu nguyện với hộ pháp, ta có được hai lợi ích. Thứ nhất, ta cảm thấy tự tin hơn khi tin rằng có người đủ năng lực có thể giúp đỡ mình vượt qua khó khăn. Nhờ cầu nguyện với hộ pháp, ta sẽ tự tin hơn khi đối mặt với khó khăn. Thứ hai, khi cầu nguyện với hộ pháp, mặc dù đang trải qua khó khăn, tâm sẽ được bình an hơn do ta biết có người đang giúp đỡ mình vượt qua khó khăn. Đây là hai lợi ích khi cầu nguyện với hộ pháp. Chúng ta cần phải áp dụng thực hành như thế.

Trong bốn pháp thực hành đặc biệt này, pháp cuối cùng là quan trọng nhất. Tuy nhiên, chúng ta phải thực hành song song và lúc nào cũng phải nghĩ rằng mục tiêu của mình là tích lũy công đức và tịnh hóa ác nghiệp. Những pháp thực hành này lúc nào cũng phải được áp dụng.

3.8: Gặp việc thế nào cũng thiền quán

4/ MỘT PHÁP THỰC HÀNH SUỐT ĐỜI

4.1: Tóm lược tinh túy của giáo huấn

Là năm lực hãy nên áp dụng

Đây là năm lực tinh túy của tất cả giáo huấn. Thầy đã giảng Bảy Điểm Luyện Tâm và đã có xuất bản thành sách có tên là Bảy Điểm Luyện Tâm. Trong đó, có tóm tắt lại tất cả những ý nghĩa lời dạy của Thầy từ xưa đến giờ về pháp hành Bảy Điểm Luyện Tâm. Chúng ta có thể tìm đọc quyển sách này trong trụ sở sinh hoạt của Dipkar miền Nam ở chùa Xá Lợi và Dipkar miền Bắc ở chùa Thiên Niên.

Năm lực gồm:

(1) Năng lực của hạt giống trắng

(2) Năng lực của tập quán

(3) Năng lực của quyết định

(4) Năng lực của sự từ bỏ

(5) Năng lực của cầu nguyện

Chúng ta có thể tham khảo thêm phần này trong sách Giải Thoát Trong Lòng Tay, quyển số 2, trang 211.

Năng lực thứ nhất là năng lực của hạt giống trắng

Khi chúng ta nghĩ về một điều tốt, việc nghĩ về điều tốt sẽ lưu lại một hạt giống, một tiềm năng tích cực trong tâm mình. Còn nếu chúng ta nghĩ về một điều xấu, việc đó cũng sẽ lưu lại một tiềm năng xấu, một hạt giống không tốt trong tâm mình. Cho nên, nếu chúng ta nghĩ về một điều tốt thì sẽ gieo một hạt giống tốt trong tâm. Và lần kế nữa khi ta muốn làm một điều tốt hay muốn nghĩ về một điều tốt, nó sẽ dễ phát sinh trong tâm mình hơn, bởi vì trước đó đã có hạt giống tốt rồi và nó sẽ giúp cho lần kế tiếp lại phát sinh dễ dàng hơn một suy nghĩ tốt hay một mong muốn làm điều tốt. Ngược lại, nếu ta nghĩ về một điều xấu thì sẽ gieo một hạt giống xấu và nó cũng sẽ lại làm cho điều xấu dễ phát sinh hơn trong tâm mình.

Tóm lại, nếu nghĩ tốt thì sẽ có hạt giống tốt, nếu nghĩ xấu thì sẽ có hạt giống xấu. Hạt giống tốt sẽ dễ dàng được chuyển hóa thành những suy nghĩ và hành động tốt. Hạt giống xấu sẽ dễ dàng chuyển hóa thành những suy nghĩ và hành động xấu. Đó là ý nghĩa của năng lực đầu tiên - năng lực của hạt giống trắng.

Năng lực thứ hai là năng lực của tập quán

Tập quán là thói quen. Dù việc suy nghĩ về điều tốt đã gieo một hạt giống tốt trong tâm mình nhưng ta vẫn cần cố gắng tạo một thói quen là lặp đi lặp lại suy nghĩ đó để làm cho hạt giống tốt trong tâm càng ngày càng vững mạnh hơn. Nhờ đó, ta sẽ dễ dàng suy nghĩ tốt và làm những việc tốt nhiều hơn.

Ta cần phải tạo thói quen để làm những việc tốt. Tuy nhiên, muốn một thói quen mới trở thành những suy nghĩ tự nhiên, chúng ta cần khoảng từ 3-4 tuần, ít nhất là 21 ngày để tạo lập một thói quen mới. Đó là ý nghĩa của năng lực thứ hai.

Một điều quan trọng chúng ta cần phải hiểu là cho dù là việc tốt hay việc xấu, nếu chúng ta lặp đi lặp lại nhiều lần thì sẽ dần trở thành thói quen. Khi thói quen đó lớn mạnh, nó sẽ trở thành nghiện. Ví dụ, nếu ta uống nhiều rượu và lặp đi lặp lại nhiều lần việc uống rượu, nó sẽ trở thành thói quen. Khi thói quen này đủ lớn, nó sẽ trở thành nghiện rượu.

Năng lực thứ ba là năng lực của quyết định

Năng lực của quyết định có thể hiểu là động cơ, động lực của mình. Chúng ta làm việc gì cũng cần có động cơ mạnh mẽ. Thực hành pháp cũng vậy. Đầu tiên, ta phải phát khởi động cơ mạnh mẽ rằng “Tôi sẽ thực hành Phật pháp để chuyển hóa bản thân. Tôi sẽ thực hành Phật pháp để làm lợi lạc cho người khác v.v…”. Ta phải có một động cơ thật mạnh mẽ để tương lai việc thực hành Phật pháp của mình thực sự suôn sẻ. Cho nên, năng lực của quyết định là năng lực của động cơ. Khi bắt đầu thực hành Phật pháp, chúng ta cần phải giữ vững sự liên tục của mình.

Năng lực thứ tư là năng lực của sự từ bỏ

Năng lực thứ năm là năng lực của cầu nguyện

Năng lực của sự từ bỏ nghĩa là từ bỏ những điều xấu, những chướng ngại khiến ta không thể làm được những điều tốt. Ta có thể hiểu theo một cách khác, đó là năng lực của pháp đối trị.

Ví dụ, chúng ta đang muốn làm một việc tốt, một việc thiện mà lại lười biếng. Khi nhận diện được bản thân đang lười biếng và sự lười biếng đó chính là chướng ngại cản trở chúng ta không làm được việc tốt thì ta cần phải tìm một pháp đối trị để có thể từ bỏ được sự lười biếng đó, từ đó giúp mình làm được việc tốt suôn sẻ hơn. Và trong lúc làm những việc tốt đó, dù đã áp dụng phương pháp để loại trừ những chướng ngại, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy bản thân không vượt qua được hoàn cảnh khó khăn đó. Khi ấy, chúng ta sẽ tự ti, cảm thấy bản thân không làm được. Khi nào sự tự ti xuất hiện, hãy áp dụng năng lực thứ năm là năng lực của cầu nguyện. Ta cầu nguyện để mong có được sự giúp đỡ vượt qua được khó khăn đó và làm được những việc tốt mà mình mong muốn. Sự cầu nguyện sẽ giúp mình thêm vững chãi trong tinh thần, dễ dàng hoàn thành việc tốt của mình. Đó là năng lực của cầu nguyện.

Bây giờ chúng ta hãy tự chiêm nghiệm lại bản thân để có thể nhìn nhận đủ năm năng lực thúc đẩy mình làm được việc tốt. Đầu tiên, chúng ta hãy tự soi rọi bản thân xem mình có những thói quen hay tính xấu nào. Và ta cần phải áp dụng năm năng lực này để loại bỏ những thói quen xấu đó.

Thầy lấy ví dụ, một người nghiện rượu thích uống rượu, bây giờ muốn bỏ rượu thì phải làm như thế nào? Đầu tiên, ta cần phải có năng lực của quyết định, là năng lực của động cơ, tức người này cần phải suy nghĩ thật rõ ràng rằng “Tôi muốn bỏ rượu” và phải suy nghĩ lặp đi lặp lại như thế để tạo một động lực đủ lớn cho bản thân, từ đó mới có thể từ bỏ được thói quen uống rượu.

Khi đã có động lực rồi, bây giờ ta cần phải hình thành một thói quen tốt mới. Một thói quen tốt sẽ thay thế được thói quen xấu nên ta phải tạo một thói quen tốt mới. Ví dụ, mỗi lần muốn uống rượu, ta hãy đi uống nước và cứ lặp đi lặp lại thói quen đó, dần dần thói quen tốt này trở nên đủ lớn để có thể thay đổi được thói quen xấu kia. Đó là năng lực của tập quán.

Trong lúc chúng ta đang cố gắng để bỏ rượu nhưng nhiều khi thói quen xấu cũ khiến cho mình không vượt qua được. Lúc đó, ta sẽ tự ti và nghĩ rằng “Chắc mình không bỏ rượu được”, từ đó bị mất đi động lực. Lúc này, hãy áp dụng năng lực của cầu nguyện. Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Phật, mong Ngài gia trì cho chúng ta có thể bỏ được rượu.

Kế tiếp là năng lực của sự từ bỏ, là năng lực của pháp đối trị. Một người nghiện rượu nghĩa là đang bám chấp vào rượu, đang tham cảm giác uống rượu. Bây giờ người đó phải tìm đủ mọi cách phù hợp nhất với bản thân để từ bỏ tâm bám chấp vào rượu. Khi từ bỏ được tâm bám chấp vào rượu thì sẽ không còn nghiện rượu nữa.

Chúng ta hãy tự chiêm nghiệm lại bản thân xem mình có thói quen xấu nào tồi tệ nhất, hãy nhận diện nó và đề ra phương pháp để từ bỏ thói quen xấu đó bằng năm lực này.

Chúng ta có tự thấy mình có thói quen xấu hay tính xấu nào không? Nếu nhận diện được những điều xấu ở bản thân thì hãy đề ra phương pháp để loại bỏ điều xấu đó bằng năm lực này. Nếu ta áp dụng và không hoàn toàn loại bỏ được điều xấu này, thì ít nhất cũng phải giảm được thói quen xấu đó, nghĩa là ta bắt đầu có dấu hiệu thành công.

Đây là bài tập về nhà của chúng ta trong tuần này. Và tuần sau chúng ta cũng tiếp tục áp dụng bài tập này. Bởi vì để có thể tạo một thói quen tốt, cần ít nhất từ 2- 3 tuần. Và thói quen tốt cần phải loại trừ được thói quen xấu. Vì không dễ loại trừ một thói quen xấu đã có trong rất nhiều năm, nên chúng ta cần thời gian ít nhất từ 2-3 tuần để có thể tạo lập một thói quen mới.

Nếu chúng ta có ngủ nhiều thì không phải là thói quen xấu, miễn sao đừng ngủ nhiều hơn 9 tiếng một ngày. Ở Hàn Quốc có nhiều người thấy lịch trình dày đặc của Thầy và hỏi Thầy làm sao có thể duy trì một lịch trình dày đặc như vậy mà vẫn tràn đầy năng lượng. Thầy nói rằng bí quyết của Thầy là ngủ đủ 8 tiếng một ngày. Ở Hàn Quốc, cứ 2-3 ngày Thầy phải di chuyển đến một nơi, có những nơi đến ở một ngày là phải di chuyển, hành lý của Thầy cứ mở ra được một tí thì phải đóng lại để tiếp tục di chuyển. Dù lịch trình khá dày đặc, nhưng nhờ ngủ đủ mỗi ngày 8 tiếng, Thầy hoàn toàn có thể duy trì lịch trình dày đặc đó mà không ảnh hưởng đến sức khỏe. Do đó, việc ngủ nhiều sẽ không có vấn đề gì, miễn sao chúng ta vẫn đủ sức khỏe để tiếp tục tất cả các hoạt động trong ngày. Tuy nhiên, đừng ngủ quá 9 tiếng một ngày.

Trong tuần này chúng ta hãy chiêm nghiệm bản thân để tìm ra một thói quen xấu hay một tính xấu nào đó, nhận diện cho rõ và sau đó đề ra một phương pháp với năm năng lực này để loại trừ thói quen xấu đó và áp dụng thực hành để có thể loại trừ hoặc giảm thiểu được thói quen xấu của mình.

Trong tuần này chúng ta hãy áp dụng bài tập này và cũng cố gắng học thuộc lòng những câu mà Thầy vừa khuyên chúng ta. Nếu đọc mà vẫn không nhớ, chúng ta hãy áp dụng phương pháp đọc đi đọc lại nhiều lần để giúp cho mình dễ nhớ hơn. Chúng ta không có thói quen học thuộc lòng nên sẽ khá vất vả để nhớ rõ một đoạn văn. Tuy nhiên, để làm quen lại với thói quen thuộc lòng, chúng ta hãy đọc đi đọc lại đoạn văn đó. Đọc đi đọc lại nhiều lần sẽ giúp chúng ta ngày càng dễ nhớ hơn và tập lại thói quen thuộc lòng.