Lamrim 2023
TUẦN 111 – NGÀY 12/11/2025
CHỦ ĐỀ: TRÍ TUỆ BA LA MẬT
(Geshe Lharampa Thabkhe Lodroe hướng dẫn)
Phạm vi lớn chủ yếu nói về cách phát tâm bồ đề, 6 ba la mật. Trong 6 ba la mật, thiền định ba la mật chủ yếu hướng dẫn thiền tịnh chỉ, còn trí tuệ ba la mật chủ yếu hướng dẫn cách đào luyện tuệ quán đặc biệt. Tánh không là một chủ đề khá khó. Lần đầu tiên học tánh không, chúng ta khó có thể hiểu được một cách sâu sắc, rõ ràng nên cần phải huân tập thói quen nghe đi nghe lại nhiều lần và quan sát, soi xét kỹ lưỡng về nghĩa của tánh không. Như vậy, chúng ta sẽ có lợi lạc hiểu thêm một chút về tánh không trong tương lai.
Cách đào luyện tuệ quán đặc biệt:
A/ Xác định tính phi hữu của bản ngã (còn gọi là nhân vô ngã)
I/ Làm thế nào để nhập định như không gian, tức nhập định thiền tánh không
4 điểm then chốt về tánh không:
1) Xác định đối tượng cần bác bỏ
2) Xác định toàn bộ các khả tính
3) Ngã và uẩn không phải là một
4) Ngã và uẩn không thực sự là khác
II/ Khi tâm không nhập định, làm thế nào để giữ thái độ xem vạn pháp như huyễn (xem trang 334, quyển 2, Giải Thoát Trong Lòng Tay)
Đây là phần giới thiệu về lập luận duyên khởi để chứng minh tánh không. Khi phân tích bác bỏ “không có” thành “có” cảm thọ vui, buồn, yêu, ghét nghĩa là phân tích thuyết duyên sinh như huyễn.
Thiền phân tích thuyết duyên sinh như huyễn: ví dụ, tuy 5 uẩn có trình hiện nhưng 5 uẩn không phải là bản tính chân thật thành lập. Nếu nói không có sự trình hiện 5 uẩn thì cũng không đúng, vì 5 uẩn vốn có trình hiện.
Trong Bát Nhã Tâm Kinh, có câu “Sắc tức là không, không tức là sắc”. Nghĩa là lúc nhập định, ta hiểu sắc tức là không. Bởi vì khi ấy ta nhập định và chứng được tánh không của sắc nên lúc đó sắc tức là không, tức là không có sự trình hiện tương tự của sắc. Sau khi xuất định, ta thấy rằng tánh không cũng chính là sắc. Sắc lúc này không còn nghĩ đến một đặc tính cố hữu của sắc để xác định pháp đó là sắc mà thấy rằng bản tánh của sắc cũng chính là không. Nhưng bản chất của sắc cũng không là không, tức là bản chất của sắc là có.
Nếu cho rằng tất cả các pháp như huyễn không có thật thì hãy dùng lập luận vì nó là duyên khởi và phụ thuộc lẫn nhau để chứng minh tánh không. Ví dụ, ta thường chấp vào mắt thấy giấc mơ, cảnh phim ti-vi nên cho là nó có trình hiện nhưng cách trình hiện của nó là không có thật và cách thức bản tánh của nó là không có thật.
Nếu cho rằng cách trình hiện của nó là không có thật thì nhân quả cũng không có thật sao? Cách nghĩ này thật sự nguy hiểm vì nếu chúng ta cho rằng không có nhân quả thì sẽ rơi lạc vào cách nghĩ của cực đoan đoạn kiến. Để đưa ra lập luận phủ định lại “không có” thì phương pháp đó là thiền về xuất định xem vạn pháp như huyễn, chủ yếu phân tích là vì tánh không cũng là duyên khởi và vì duyên khởi cũng là Tánh không.
Có nhiều loại duyên sinh:
1/ Duyên sinh nhân quả (xem trang 334, quyển 2, Giải Thoát Trong Lòng Tay).
Luận lý hình thức bao gồm sự hỗ tương duyên sinh có tầm quan trọng lớn. Ví dụ, nếu chồi cây tự bản chất là thực hữu thì đáng lẽ nó không phải là kết quả của những cái khác như nhân và duyên, nó cũng không là một cái gì được dán nhãn hiệu lên đó. Nó phải là một cái biệt lập tự tồn. Nhưng sự thật không phải vậy. Chồi lớn lên nhờ một loạt nhân và duyên gồm hạt giống, nước, phân, hơi ấm, hơi ẩm v.v... Tương tự, bông hoa cũng phát triển dựa trên nhân và duyên như thế.
2/ Duyên sinh dựa trên hữu phần
Ví dụ, dân số là thành phần hình thành duy trì một quốc gia. Tổ chức Liên Hiệp Quốc được hình thành có sự liên kết giữa các quốc gia trên thế giới.
3/ Duyên sinh gắn đặt dựa trên khái niệm
Ví dụ, đơn vị tiền tệ chính thức của Mỹ là USD. Rupee là đơn vị tiền tệ chính thức của Ấn Độ. Đồng là đơn vị tiền tệ chính thức của Việt Nam.
Chúng ta cần phải phân tích, tìm hiểu ý nghĩa thuyết duyên khởi. Nếu không hiểu đúng về duyên sinh thì ta sẽ cho rằng không có nhân quả. Suy nghĩ như vậy rất nguy hiểm.
Duyên khởi có nghĩa là cái này phụ thuộc vào cái kia, một vật, sự vật, hiện tượng nào có mặt ở trên đời đều phụ thuộc vào điều kiện, nguyên nhân để nó được sinh ra, nó phụ thuộc vào cái khác để được tạo ra nên nó không có thực, không có tự tánh, nhân vô ngã, pháp vô ngã, nó cũng chính là tánh không. Khi thiền tâm từ bi đối với chúng sinh thì nên kết hợp với thiền duyên sinh. Phạm vi trung bình đề cập 12 chi phần nhân duyên nhấn mạnh về duyên sinh.
B/ Xác định tính phi hữu của các hiện tượng (pháp vô ngã)
Trích Trung Quán Căn Bản Trí Tuệ của Ngài Long Thọ:
“Không là từ chính nó, không là từ khác
Không là từ cả hai, không là vô nhân
Dù bất kỳ tất cả thực hữu
Cũng tuyệt đối không có sự sinh”
Pháp vô ngã không từ cái ngã, không từ cái khác cũng không từ cả hai, không từ vô nhân sinh ra.
Thiền tánh không: Ví dụ, tôi là tu sĩ. Khi chỉ tay vào mình, tôi đi tìm kiếm thân của tôi, thọ của tôi, tưởng của tôi, hành của tôi, thức của tôi thì sẽ không tìm thấy ở bất kỳ chỗ nào. Cho nên cái tôi của mình không thể là thân.
Tiếp theo, đi tìm kiếm cái tôi trong tâm thức, niệm, trí tuệ, vui, buồn, lạnh, đói v.v… cũng không tìm thấy cái tôi ở tâm. Vì cái lạnh và đói là cảm giác của thân. Tâm không biết lạnh, đói. Nhưng cái tôi biết lạnh, đói nên không thể nào là tâm được. Cho nên, cái tôi không là thân, cũng không là tâm.
Trước khi thiền tánh không, cần phải nói đến Văn (lắng nghe giáo pháp) - Tư (phân tích và chiêm nghiệm về giáo pháp) - Tu (thực hành thiền định). Ở cuối giai đoạn thiền quán về trí tuệ này, ta sẽ bắt đầu có được trải nghiệm trực tiếp về trí tuệ.
Thiền tánh không câu chú trong Bát Nhã Tâm Kinh: TAYATHA GATE GATE PARAGATE PARASAM GATE BODDHI SVAHA là thiền phân tích trí tuệ về Tư lương đạo, Gia hành đạo, Kiến đạo, Tu đạo, Vô học đạo và Thập địa.
Trích trong Bát Nhã Tâm Kinh, Bát Nhã mở rộng, Trung Bát Nhã, Bát Nhã giản lược: “Không sắc, không thanh, không hương, không vị, không xúc, không pháp… không tập, không khổ, tập, diệt, đạo, không trí, không đắc, cũng không có không sở đắc…”
Tất cả những gì tâm thức biết được là vô thường và thường nên khi nói chứng tánh không trên các uẩn - pháp vô ngã là chứng tánh không của các pháp vô thường và thường.
I/ Tính phi hữu của pháp hữu vi
Các pháp vô thường chia làm 3 bộ phận:
1/ Tính phi hữu của sắc pháp
2/ Tính phi hữu của tâm pháp
3/ Tính phi hữu của bất tương ứng hành (những thứ thay đổi không phải sắc và tâm)
Khi phân tích tìm kiếm thì sẽ không tìm thấy được các pháp.
Trích Trung Quán Căn Bản Trí Tuệ của Ngài Long Thọ:
“Cái ngã không là đất, không là nước
Không là gió, không là không gian
Không là tâm thức, cũng không là tất cả
Ngoài yếu tố trên thì cái ngã tìm thấy nơi nào khác?”
Lấy cái bình làm chủ đề. Cái bình là một hay là khác. Cái bình là thành lập không thực, vì không tìm thấy cái bình là một với thành phần của chính nó. Nếu nói cái bình là khác với thành phần của nó thì tách biệt miệng bình, đáy bình, có công năng ra khỏi gắn đặt định nghĩa của cái bình thì có nhận diện được cái bình hay không.
Ta xét yếu tố thời gian. Thời gian là bất tương ứng hành. Thời gian không phải là một khối đặc mà ta có thể chỉ tay tìm kiếm được. Thời gian thành lập dựa trên các thành phần như ngày, tháng, năm, giờ, phút, giây. Nếu ta chỉ tay tìm kiếm vào thời gian hiện tại thì sẽ không thể chỉ tay vào nó được, vì ngay lúc ấy trở thành thời gian quá khứ rồi. Nếu không có thời gian hiện tại thì cũng không có thời gian quá khứ và tương lai. Cho nên, chúng ta cũng không thể tìm kiếm thấy các pháp ở nơi thời gian. Tương tự, cũng không thể tìm kiếm thấy các pháp ở sắc, tâm thức, bất tương ứng hành.
II/ Tính phi hữu của pháp vô vi
III/ Cách triển khai tuệ quán đặc biệt
Thiền có 2 loại là thiền chỉ và thiền quán. Tịnh chỉ là khả năng thiền tập trung vào đối tượng trong một khoảng thời gian mà không bị phân tâm, tán loạn. Thắng quán là khả năng thiền phân tích. Gần đây có thiền tứ niệm xứ, hình thức thiền này có sự khác biệt so với thiền quán (thiền phân tích). Thiền phân tích đầu tiên nói về phân tích các hành đều vô thường, tiếp đến phân tích vô thường vi tế, nhân vô ngã, cuối cùng là thiền phân tích cao nhất là quan điểm tánh không.
Khi đã thành tựu giai đoạn thiền tịnh chỉ thì tiếp đến đạo lộ thực hành thiền thắng quán quan điểm tánh không và tiếp theo có kết hợp phát sinh tâm bồ Đề. Khi đó sẽ đạt được quả vị Phật.
Tổ Tsongkhapa tóm lược tổng quát Đại Luận Lamrim trong tác phẩm Ba Căn Bản Của Đạo Lộ gồm tâm từ bỏ (hành giả phạm vi nhỏ, trung bình thực hành), phát tâm bồ đề (hành giả phạm vi lớn thực hành và thiền tịnh chỉ), chánh kiến (thiền thắng quán quan điểm tánh không).